Sôi động điện mặt trời áp mái gia đình

Việc huy động nguồn điện năng lượng tái tạo được kỳ vọng sẽ sôi động hơn khi quyết định 13 về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời vừa được Chính phủ ban hành và có hiệu lực ngày 22-5.

Điều này sẽ càng có ý nghĩa với người dân khi khả năng thiếu điện trong thời gian tới đang hiển hiện. Ngoài việc tạo ra nguồn điện sử dụng, người dân còn có thể bán điện cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Vừa có điện dùng vừa có điện bán

Là một trong những hộ dân lắp hệ thống điện mặt trời áp mái, gia đình ông Nguyễn Đắc Thọ (đường Lê Văn Sỹ, Q.3, TP.HCM) giờ đây không phải trả tiền điện mà mỗi tháng còn nhận đều đặn hơn 2 triệu đồng tiền bán điện cho công ty điện lực.

Ông Thọ lắp hệ thống điện mặt trời trên mái nhà với tổng công suất lắp đặt là 13 kW, sản lượng điện phát lên lưới từ 1.000 – 1.100 kWh điện. Với giá bán điện ưu đãi 8,38 cent/kWh, mỗi tháng ông Thọ được ngành điện chuyển khoản tiền mua điện 1.9 – 2,1 triệu đồng.

Trừ tiền điện gia đình ông sử dụng khoảng 1,5 triệu đồng/tháng, tính ra mỗi tháng gia đình ông Thọ dư ra khoảng 400.000 – 600.000 đồng từ tiền bán điện.

Theo đánh giá của EVN, tình hình đầu tư lắp đặt hệ thống điện áp mái hiện nay rất sôi động. Ông Võ Quang Lâm – phó tổng giám đốc EVN – cho hay từ ngày 1-7-2019 đến 26-5-2020, đã có thêm 21.250 dự án điện mặt trời áp mái với tổng công suất 449 MW.

“Cho đến nay có 27.990 khách hàng, trong đó đặc biệt có 22.900 khách hàng là hộ gia đình và 5.096 khách hàng là doanh nghiệp đã lắp hệ thống điện mặt trời trên mái nhà của mình với tổng công suất 578 MW. Đây là tín hiệu tốt” – ông Lâm cho hay.

Chia sẻ thêm về quyết định 13, ông Hoàng Tiến Dũng – cục trưởng Cục Điện lực và năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) – cho rằng cơ chế khuyến khích trong quyết định này áp dụng chủ yếu cho dự án có chủ trương đầu tư từ cách đây hơn nửa năm, quy mô được áp dụng không nhiều.

Trong khi đó, dự án điện mặt trời có thời gian thi công nhanh, thực tế cho thấy có tập đoàn thực hiện dự án trong thời gian ngắn chỉ 4 tháng.

“Từ nay đến cuối năm còn 7 tháng, các nhà đầu tư hoàn toàn có đủ thời gian để thực hiện dự án và hưởng cơ chế ưu đãi” – ông Dũng nói và cho biết thêm ngay trong tháng 5 đã có văn bản gửi EVN hướng dẫn hợp đồng mua bán điện, điều chỉnh giá điện.

Trên cơ sở đó, EVN hoàn toàn có thể ký kết hợp đồng với người dân trong phát triển điện áp mái.

Thủ tục qua mạng

Với mục tiêu cuối năm 2020, EVN kỳ vọng các khách hàng lắp đặt điện mặt trời áp mái có thể khoảng 1.000 MW nên lãnh đạo EVN cũng cho hay sẽ tạo mọi thuận lợi cho người dân lắp đặt hệ thống điện áp mái.

Theo ông Lâm, để đơn giản hóa thủ tục lắp đặt, EVN đã hoàn thành việc cung cấp dịch vụ công cấp độ 4, nên toàn bộ thủ tục đã được điện tử hóa. Khách hàng chỉ cần liên hệ qua tin nhắn, email và sau 2 ngày từ khi nhận được thông tin, các đơn vị của tập đoàn sẽ liên hệ, ký kết hợp đồng mua bán điện bằng phương thức điện tử.

Ông Nguyễn Quốc Dũng – trưởng ban kinh doanh của EVN – cho biết quy trình ký kết hợp đồng đã dược công khai trên trang web của tập đoàn.

EVN hỗ trợ lắp đặt côngtơ 2 chiều, nên khách hàng chỉ cần đăng ký thông tin khách hàng là có đại diện EVN liên hệ để lắp đặt côngtơ 2 chiều, thủ tục đơn giản, thực hiện theo hợp đồng điện tử và việc mua điện cũng qua mạng.

Vị này cũng tính toán đối với một hộ gia đình có diện tích sử dụng khoảng 100m2, quy mô khoảng 10 kWp (suất đầu tư dao động 13 – 16 triệu đồng/kWp) thì thời gian thi công, đấu nối và bán điện cho EVN chỉ trong khoảng 1 tuần.

Về thời gian thu hồi vốn, ông Dũng cho hay giá điện hiện ở mức khoảng 1.970 đồng thì thời gian thu hồi rất nhanh, khoảng 6 – 8 năm thu hồi xong vốn.

Không thể “băm nát” quy hoạch ngành điện

TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương chia sẻ góc nhìn về bổ sung dự án điện mặt trời, điện gió vào quy hoạch.

Liên tiếp bổ sung dự án điện mặt trời, điện gió vào quy hoạch; đầu tư đường dây truyền tải 500 kV của tư nhân… là những vấn đề mới cần được nghiêm túc nghiên cứu ở góc độ an ninh năng lượng.

TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương chia sẻ góc nhìn về những nội dung này.

.

Việc bổ sung cấp tập các dự án điện mặt trời thời gian qua và giờ đây là điện gió vào Quy hoạch Điện với công suất rất lớn cho thấy điều gì, thưa ông?

Ở đây có 2 vấn đề đặt ra.

Thứ nhất, tại sao cần bổ sung? Có thể, do Quy hoạch chưa đáp ứng được kỳ vọng, yêu cầu của thực tế, cũng đồng nghĩa là, năng lực xây dựng quy hoạch trước đó chưa cao.

Thứ hai, khi bổ sung lượng lớn dự án và công suất, cần đánh giá lại toàn bộ Quy hoạch hiện có, chứ không phải làm theo nhu cầu của nhà đầu tư trong điều kiện Nhà nước đã đưa giá mua điện mặt trời, điện gió lên cao.

Quy hoạch ngành điện không thể làm theo động lực của nhà đầu tư, bởi như vậy sẽ “băm nát” quy hoạch và sau này không thể sửa được.

Làm quy hoạch thì không được bảo thủ, khi cần sẽ phải bổ sung, cập nhật, nhưng phải tiến hành đánh giá thực trạng, cân nhắc tổng thể các nguồn cấp và yếu tố liên quan, chứ không phải lệch về một nguồn nào đó. Cũng không thể làm theo cách, nhà đầu tư này, tỉnh này xin, cơ quan chức năng chấp thuận bổ sung quy hoạch. Tỉnh khác, nhà đầu tư khác cũng xin, lại bổ sung tiếp. Như thế, quy hoạch không còn là quy hoạch nữa.

Đặc biệt, với ngành điện, do tính chất phải có hệ thống truyền tải để tiêu thụ, nên phải tính toán rõ ràng trong Quy hoạch. Nếu cứ bổ sung nguồn, mà hệ thống truyền tải không được bổ sung, hoặc không theo kịp tốc độ bổ sung nguồn, thì tự Nhà nước rơi vào thế bị động và cứ phải giải quyết tình thế đã rồi.

Khi đó, đường dây mà doanh nghiệp tư nhân xây dựng, dù ở cấp điện áp 500 kV từ trước đến nay chưa từng làm, cũng là tình thế để gỡ điểm nghẽn của quá trình bổ sung quy hoạch, chứ không phải là đột phá.

Gần đây, một số dự án điện mặt trời, điện gió sau khi được bổ sung vào quy hoạch hoặc mới hoạt động đã bán lại cho nhà đầu tư nước ngoài? Ông thấy điều này có gì đáng chú ý không?

Nguồn điện của nước ta đang thiếu. Đầu tư vào điện mặt trời và điện gió đang sinh lời lớn với giá mua tốt đã dẫn tới “phong trào” đầu tư từ tư nhân trong nước.

Ở Việt Nam, việc doanh nghiệp chuyển nhượng vốn sau khi xin được dự án là được phép về mặt pháp luật. Về mặt thị trường, chuyển nhượng cũng là bình thường. Tuy nhiên, khi việc chuyển nhượng vốn diễn ra ở nhiều dự án hay có sự phổ biến, thì lại là điều bất thường.

Điều này cho thấy, cơ chế cấp phát dự án, bổ sung quy hoạch mang tính “xin – cho” và đã cho phép cả những nhà đầu tư không đủ năng lực. Như vậy, rõ ràng phải xem lại cách bổ sung quy hoạch các dự án năng lượng tái tạo như đã và đang làm.

Việc chuyển nhượng cho doanh nghiệp khác trong nước cũng cho thấy, nhà đầu tư ban đầu có thể chỉ là “cò” hoặc “chuyên chạy dự án”, còn nhà đầu tư muốn làm thật thì không có cơ hội tiếp cận những dự án năng lượng có hiệu quả về kinh tế nên phải mua lại. Vì vậy, phải tạo cơ hội công bằng cho các nhà đầu tư, để nhà đầu tư có năng lực thực sự, công nghệ vượt trội có quyền tiếp cận và được thực hiện dự án.

Về việc chuyển nhượng vốn/dự án cho nhà đầu tư nước ngoài, thì phải xác định rõ, chúng ta cần gì ở nhà đầu tư nước ngoài? Nếu là cần vốn, thì phải chăng nhà đầu tư ban đầu không có năng lực tài chính, hay cơ chế không đủ thuận lợi để nhà đầu tư nội có thể vay được vốn? Cũng cần làm rõ, có phải trong nước có vốn, nhưng chính sách khó nên không huy động được, hay thực sự không có vốn?

Bên cạnh đó, cần làm rõ “nhà đầu tư nước ngoài” là ai? Liệu họ có mang công nghệ tốt đến không? Nếu đa số người mua đến từ một vài nước lớn hoặc có nhà đầu tư từ nước lớn đứng phía sau, thì cần lưu tâm cả khía cạnh an ninh năng lượng để tránh bị ảnh hưởng, phụ thuộc trong lâu dài.

Theo ghi nhận, các nhà đầu tư mua lại dự án năng lượng sạch gần đây đến từ các nước trong khu vực ASEAN và lân cận, thiếu vắng các nhà đầu tư đến từ các nước phát triển như châu Âu hay Mỹ. Thực tế này nói lên điều gì, thưa ông?

Nói lên rất nhiều điều. Câu hỏi này cũng thường được đặt ra trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài của nước ta. Các nhà đầu tư vào Việt Nam chủ yếu đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, hay gần đây là Trung Quốc và ít có đầu tư lớn đến từ Mỹ, châu Âu.

Tôi có đặt vấn đề về lý do “đầu tư vào Việt Nam chưa nhiều” với Đại sứ của một nước phát triển và muốn có những dự án lớn trong ngành năng lượng. Vị đại sứ này nhắc tới một số ý như: hệ thống chưa minh bạch, thủ tục hành chính kéo dài, chính sách không tiên lượng được, thảo luận giữa các cơ quan hữu trách mất quá nhiều thời gian…

Ngoài ra, đầu tư từ “thiên đường thuế” vào Việt Nam chiếm khoảng 1/3 tổng đầu tư nói chung và khi có sự xuất hiện của nhà đầu tư từ “thiên đường thuế”, thì các nhà đầu tư “tử tế” khó có thể vào được nữa.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc thu hút tư nhân đầu tư đường dây truyền tải là rất nên làm để giảm gánh nặng trên vai Nhà nước. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

Điện là hàng hóa đặc biệt, sản xuất ra thì phải truyền tải đến nơi tiêu thụ. Với tính chất của ngành điện, tôi cho rằng, đối với khâu truyền tải điện, Nhà nước nên độc quyền cả đầu tư và vận hành lưới truyền tải xương sống để đảm bảo tính liên tục, công bằng và an ninh năng lượng.

Tuy nhiên, trong điều kiện đầu tư của Nhà nước không thể bao quát được tất cả, mà tư nhân có điều kiện, thì cũng nên khuyến khích tư nhân bỏ tiền đầu tư truyền tải theo cách: tư nhân đầu tư mạng lưới nhánh và Nhà nước có thể quản lý, trả phí cho tư nhân.

Việc tư nhân “đổ xô” đầu tư vào năng lượng tái tạo dẫn tới phải bổ sung nhiều đường dây mới. Trong khi đầu tư của Nhà nước không thể nhanh do phải qua quy trình duyệt, thì tư nhân đã đề xuất xây dựng đường dây cấp điện áp cao để tải điện từ dự án của mình lên lưới nhằm hưởng ưu đãi giá bán điện cao. Theo ông, điều này có được cho là “đột phá” không?

Ở trường hợp cụ thể, cần phân biệt rõ, đường dây 500 kV mà doanh nghiệp đầu tư ảnh hưởng thế nào tới an toàn hệ thống điện quốc gia. Nếu các doanh nghiệp tư nhân cùng xây dựng một đoạn đường dây 500 kV nào đó để kết nối và truyền tải điện do mình sản xuất ra lên hệ thống điện, thì đường dây này vẫn mang tính chất để bán điện, nhắm tới phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp là chính, chứ chưa phải là truyền tải. Nếu hiểu theo cách đó, thì doanh nghiệp tư nhân phải có trách nhiệm với đường dây mà mình xây dựng.

Cơ quan chức năng phải làm rõ câu chuyện này. Cần xác định vấn đề phải xử lý ở đây là gì để đạt được mục tiêu trong vấn đề cụ thể đó. 

Nhà đầu tư tư nhân cũng đề xuất, sau khi đầu tư đường dây 500 kV sẽ bàn giao lại 0 đồng cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)/Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia quản lý vận hành. Nhưng EVN cho rằng, chi phí đầu tư, vận hành, bảo dưỡng đường dây này đã được tính vào giá mua điện cao, nếu nhận bàn giao 0 đồng, thêm 1 lần nữa các chi phí này lại được tính vào giá điện, chưa kể câu hỏi về chất lượng. Ông thấy thế nào?

Đầu tiên, nhà đầu tư xây đường dây phải đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia và được kiểm soát nghiêm ngặt.

Do đường dây mà nhà đầu tư đề xuất chỉ chủ yếu phục vụ việc bán điện của mình lên hệ thống, nên họ phải có trách nhiệm với đường dây này. Nếu cho rằng mình chưa có kinh nghiệm vận hành lưới truyền tải cao áp, nhà đầu tư có thể thuê các doanh nghiệp có chuyên môn vận hành.

Thanh Hương – Báo Đầu Tư

Đẩy mạnh lắp đặt điện mặt trời áp mái?

Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) khuyến khích khách hàng phía Nam tiếp tục đầu tư, lắp đặt điện mặt trời áp mái, nhất là những địa phương có số giờ nắng cao. Tính đến đầu tháng 5/2020, EVNSPC đã thanh toán tiền mua điện mặt trời áp mái của 4.163 khách hàng với sản lượng điện thanh toán là 71,912 triệu kWh, tương ứng hơn 160 tỷ đồng.

Theo thống kê của EVNSPC, từ đầu năm 2020 đến nay, tình hình đầu tư, lắp đặt điện mặt trời áp mái của người dân, doanh nghiệp (DN) tiếp tục tăng trưởng mạnh. Điều này cho thấy, điện mặt trời áp mái đang ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư.

Cụ thể, trong tháng 4/2020, EVNSPC đã lắp đặt công tơ 2 chiều cho hơn 550 khách hàng, tổng công suất là 15.607 kWp. Lũy kế đến đầu tháng 5/2020, toàn miền Nam có 2.484 khách hàng lắp đặt điện mặt trời áp mái, tổng công suất 84.876 kWp.

Từ đầu năm đến nay, tại địa bàn có số giờ nắng cao như: Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, số lượng khách hàng lắp điện mặt trời áp mái để sử dụng không ngừng tăng. Tiêu biểu như tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã có 1.100 khách hàng lắp đặt điện mặt trời áp mái, công suất khoảng 14.000 kWp.

Theo tính toán của các hộ dân đang sử dụng điện mặt trời áp mái, nếu đầu tư từ 30-45 triệu đồng lắp hệ thống điện mặt trời áp mái có công suất 4-5 kWp, sẽ tạo ra được lượng điện khoảng 25 kWh và hoàn vốn sau 8 năm sử dụng. Sản lượng điện năng lượng mặt trời áp mái đủ sử dụng cho quạt, tivi, tủ lạnh và thắp sáng cho gia đình.

Tính đến đầu tháng 5/2020, EVNSPC đã thanh toán tiền mua điện mặt trời áp mái của 4.163 khách hàng với sản lượng điện thanh toán là 71,912 triệu kWh, tương ứng 160,65 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Văn Lý, Phó Tổng Giám đốc EVNSPC cho biết, để phát triển nhanh điện mặt trời áp mái tại 21 tỉnh, thành phố khu vực miền Nam, EVNSPC và các công ty điện lực trực thuộc đã triển khai mạnh mẽ phổ biến, quảng bá về các chủ trương, chính sách khuyến khích lắp đặt điện mặt trời, đặc biệt là điện mặt trời áp mái và các thủ tục thực hiện đầu tư.

Các công ty điện lực thành viên sẵn sàng lắp đặt miễn phí công tơ hai chiều đo đếm điện năng, ký kết hợp đồng mua lượng điện dư từ hệ thống điện mặt trời áp mái của hộ dân, DN phát lên lưới điện. Đồng thời, thực hiện miễn phí các hồ sơ liên quan việc đấu nối vào lưới điện, ghi chỉ số, thanh toán tiền điện mặt trời áp mái đến khách hàng hằng tháng.

Ngày 6/4 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Quyết định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 22/5/2020, là cú hích tạo đà cho điện mặt trời áp mái phát triển.

Tiềm năng phát triển điện mặt trời áp mái ở Việt Nam rất lớn, nhất là khu vực phía Nam, nơi có số giờ nắng trung bình năm thuộc diện cao so với cả nước. EVNSPC xác định rõ việc hỗ trợ phát triển điện mặt trời áp mái là một trong những chủ trương quan trọng bởi đây là nguồn cung cấp điện hiệu quả, giải pháp thiết thực cho việc đáp ứng nhu cầu điện năng ngày một tăng cao.

Loạt dự án điện mặt trời bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài

Bằng việc liên doanh liên kết với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, các tập đoàn lớn của nước ngoài đã có trong tay hàng chục dự án điện mặt trời với giá ưu đãi (hơn 2.100 đồng/số trong 20 năm).

Hàng chục dự án điện mặt trời có yếu tố “ngoại”

Theo tìm hiểu của PV. VietNamNet, chỉ sau một thời gian ngắn, nhiều nhà đầu tư đến từ Thái Lan, Philippines, Trung Quốc,… đã trở thành những ông chủ mới của các dự án điện mặt trời ở Việt Nam.

Điển hình là trường hợp Công ty năng lượng B.Grimm Power, một nhánh đầu tư của Tập đoàn Thái Lan B.Grimm. Ban đầu, công ty này liên danh liên kết với nhà đầu tư trong nước để làm dự án, rồi dần nâng sở hữu lên đa số. Trong đó, phải kể đến việc liên kết với DN trong nước để làm dự án điện mặt trời Dầu Tiếng.

Với công suất lên đến 420 MW, dự án điện mặt trời Dầu Tiếng ở Tây Ninh của Công ty CP Năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh được coi là một trong những dự án lớn nhất Đông Nam Á về năng lượng sạch. Từ cuối 2019, công ty này đã đổi người đại diện theo pháp luật và chủ tịch HĐQT. Hiện ông Preeyanat Soontornwata, Chủ tịch B.Grimm Power là người đại diện theo pháp luật của Công ty CP Năng lượng Dầu Tiếng Tây Ninh và nắm giữ chức Chủ tịch HĐQT.

Ông Preeyanat Soontornwata, Chủ tịch B.Grimm Power cũng chính là người đại diện theo pháp luật của Công ty CP TTP Phú Yên (điện mặt trời Hòa Hội), Công ty TNHH Điện mặt trời Việt Thái.

Tập đoàn năng lượng Thái Lan Gulf Energy Development cũng đang sở hữu nhiều dự án điện mặt trời “khủng” sau khi mua lại cổ phần của Thành Thành Công, trở thành cổ đông chiếm 90-95% vốn tại hai dự án điện mặt trời tại Tây Ninh là TTC1 và TTC 2 và dự án năng lượng tại Bến Tre. Tháng 2/2020, các công ty này đồng loạt đổi tên từ Công ty CP Đầu tư phát triển năng lượng TTC thành Công ty CP Gulf Tây Ninh 1, 2.

Ông Prasert Thirati, Giám đốc công ty TNHH Gulf Việt Nam, cũng là người đại diện theo pháp luật của các công ty năng lượng tái tạo như Công ty CP Gulf Tây Ninh 1, Công ty CP Gulf Tây Ninh 2, Công ty CP Điện gió Mê Kong, Công ty CP đầu tư phát triển năng lượng TTC.

Hay Công ty Super Energy Corporation của Thái Lan từ giữa năm 2018 đã tiến hành mua lại cổ phần và đầu tư vào hàng chục dự án điện tái tạo tại Việt Nam (bao gồm cả điện mặt trời và điện gió) như Văn Giáo 1, Văn Giáo 2, Phan Lâm 1, Bình An, Thịnh Long, Sinenergy Ninh Thuận…

Không chỉ nhà đầu tư Thái Lan, các đối tác từ Ả Rập Xê Út, Philippines như ACWA, AC Energy cũng sở hữu nhiều dự án điện mặt trời ở Việt Nam.

Ngoài ra, ở Việt Nam hiện có một đội ngũ doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, khảo sát, làm thủ tục cấp phép, đầu tư dự án năng lượng tái tạo. Họ được gọi với cái tên “nhà phát triển dự án”. Sau khi hoàn thành các thủ tục đầu tư dự án, doanh nghiệp sẽ kêu gọi nhà đầu tư, chuyển nhượng cổ phần để triển khai thực hiện.

Vì sao nhà đầu tư nước ngoài phải đi đường vòng?

Chia sẻ với PV, một nhà đầu tư cho biết: Các tập đoàn năng lượng hàng đầu thế giới hiếm khi tự đi phát triển dự án để tránh các vấn đề pháp lý, thủ tục. Ở Việt Nam cũng vậy. Một số nhà đầu tư trong nước sẽ thành lập doanh nghiệp, tiến hành nghiên cứu, khảo sát, làm thủ tục đầu tư dự án. Sau đó, chuyển nhượng lại cổ phần tại doanh nghiệp đó cho các nhà đầu tư có khả năng thực hiện dự án.

Điều này khá tương đồng với ý kiến của ông Fernando Fernando Zobel de Ayala, Chủ tịch và Giám đốc Điều hành Tập đoàn Ayala (đơn vị liên doanh với BIM Group làm điện mặt trời) trên một tờ báo của Philippines khi giải thích về lý do chọn đối tác trong nước để liên kết. “Tôi nghĩ rằng khó đơn vị nước ngoài có thể đến vùng đất này, giải quyết các thách thức phải đối mặt mà không có một đối tác địa phương”, lời ông Zobel.

Về giá bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư này cho hay tùy thuộc vào giá bán điện của các dự án. Nếu nhà máy đã vận hành thương mại, giá bán điện 9,35cents/kWh và không bị giảm phát thì giá bán khoảng 1-1,1 triệu USD/MWp (bao gồm cả nợ ngân hàng). Nếu nhà đầu tư nào tiết kiệm được chi phí phát triển (đất đai, thủ tục) thì sẽ có lãi, còn một số dự án có chi phí đầu tư, phát triển dự án đã trên 1 triệu USD/MWp thì lãi không đáng kể.

Đại diện một DN đầu tư năng lượng tái tạo khác cho biết: Nhiều nhà đầu tư trong nước đã bán phần lớn cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉ giữ lại một lượng cổ phần ít ỏi. Nhưng cần nhìn nhận đây là hoạt động kinh doanh thuần túy. Những dự án nào chưa bán lúc này thì chỉ có thể là vì chưa được giá như ý.

“Ví dụ, một dự án điện mặt trời 50 MW đầu tư hết khoảng 1.000 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là 200 tỷ, còn lại 800 tỷ vay ngân hàng. Nếu bán dự án, trừ đi phần vay ngân hàng, họ có thể thu được hàng trăm tỷ đồng. So với số vốn bỏ ra ban đầu, đó là mức lợi nhuận rất tốt. Họ sẽ lại đem tiền đó để đi đầu tư các dự án khác”, đại diện doanh nghiệp này tiết lộ.

Trao đổi về việc nhà đầu tư nước ngoài sở hữu các dự án điện mặt trời, ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và tăng trưởng xanh, khẳng định đây đơn giản là câu chuyện của thị trường. Nếu dự án tốt thì sẽ có người mua cho nên không nên coi đó là việc gì đó nghiêm trọng.

Lương Bằng – Báo điện tử Vietnamnet

Lợi ích kép từ lắp điện mặt trời

Giảm chi phí tiền điện, bảo vệ môi trường và có thể bán điện dư cho điện lực đó là lợi ích kép mà điện mặt trời áp mái (ĐMTAM) mang lại cho người dân và doanh nghiệp.

Theo thông tin từ Công ty Điện lực Long An, trên địa bàn tỉnh, đến hết tháng 3/2020 đã có 643 khách hàng lắp đặt ĐMT, tổng công suất phát triển điện đạt trên 25.723 kWp. Trong đó, có 484 khách hàng dùng điện trong sinh hoạt với công suất lắp đặt 2.617 kWp, 159 khách hàng dùng điện ngoài sinh hoạt lắp đặt 23.106 kWp. TP. Tân An là một trong những địa bàn có nhiều khách hàng lắp đặt. Theo đó, Tân An có 157 khách hàng lắp đặt với công suất 1.429 kWp. 

Hình thức đầu tư ĐMT nhiều nhất trên địa bàn tỉnh là khai thác, sử dụng song hành cả hai nguồn điện, số dư thừa bán cho ngành điện. Hình thức này không bị lãng phí điện sản xuất ra và cũng không lo bị thiếu điện khi trời không có nắng.

Để nhân rộng mô hình ĐMTAM, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg, ngày 11/4/2017, về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án ĐMTAM tại Việt Nam và Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg, ngày 8/1/2019, sửa đổi, bổ sung Quyết định 11/2017/QĐ-TTg. Để cụ thể hóa các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành văn bản quy định về chính sách ưu đãi đối với dự án ĐMTAM trên mái nhà có công suất lắp đặt không quá 50 kW. 

Theo đó, các linh kiện, thiết bị, máy móc phục vụ việc lắp đặt ĐMTAM đều được ưu tiên về thuế. Cá nhân lắp đặt hệ thống ĐMTAM bán cho ngành điện dưới 100 triệu đồng/năm sẽ được miễn thuế. Đây là chính sách quan trọng khuyến khích người dân phát triển ĐMTAM.

Gia đình anh Lê Hồng Hiển tại Phường 3, TP. Tân An, tỉnh Long An có 5 thành viên nên nhu cầu sử dụng điện trong sinh hoạt hằng ngày nhiều. Anh Hiển chia sẻ, trước đây, bình quân mỗi tháng gia đình tốn gần 1,5 triệu đồng tiền điện. Tuy nhiên thời gian gần đây, gia đình anh không mất chi phí cho tiền điện mà ngược lại, được ngành điện thanh toán lại từ 1-1,4 triệu đồng/tháng (tùy thời tiết), bởi vào tháng 3/2019, anh đầu tư hệ thống ĐMTAM với công suất tương đương khoảng 7 kWp, trị giá gần 120 triệu đồng. Bình quân trong những ngày nắng nóng nhiều vào mùa khô, mỗi ngày, ĐMTAM nhà anh tạo ra được khoảng 28 kWh điện.

Hiện tại, gia đình anh Hiển dùng song hành cả hai nguồn điện. Số điện dư, anh bán cho ngành điện. Anh Hiển cho biết từ ngày lắp ĐMTAM, gia đình anh hầu như không phải tốn chi phí tiền điện. Đây là hình thức đầu tư khá hiệu quả cho gia đình sử dụng điện nhiều vì tiết kiệm tiền điện theo khung giá bậc thang. Tuy chi phí đầu tư ban đầu khá cao nhưng hiệu quả sử dụng lâu dài.

Phó Giám đốc Công ty Điện lực Long An Lê Hoàng Oanh chia sẻ, khi người dân hay doanh nghiệp sử dụng ĐMTAM không chỉ giúp ngành điện giảm áp lực về nguồn cung cấp điện mà còn góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí. 

Thực hiện chủ trương của Chính phủ về khuyến khích, thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, Long An có chính sách hỗ trợ khách hàng công tơ điện 2 chiều. Đặc biệt, Công ty Điện lực Long An sẵn sàng hỗ trợ người dân, doanh nghiệp lắp đặt và có nhu cầu bán điện, ngành điện đều ưu tiên nếu đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật.

Phát triển điện gió : nhà đầu tư còn băn khoăn

Tiềm năng phát triển điện gió của Việt Nam có thể lên tới hàng trăm nghìn MW, nhưng đến nay, mới chỉ có khoảng 377MW công suất điện gió đi vào vận hành.

Quyết định 39/2018/QĐ-TTg (Quyết định 39) sửa đổi, bổ sung Quyết định 37/2011/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió đã tạo động lực thúc đẩy thị trường điện gió tại Việt Nam. Nhiều dự án điện gió theo đó đã được đề xuất bổ sung quy hoạch và đang được thi công xây dựng.

Báo cáo của Bộ Công thương cho hay, tính đến tháng 3/2020, có 78 dự án đã được bổ sung vào Quy hoạch Phát triển điện lực với công suất khoảng 4.880MW; 11 dự án điện gió đã phát triển với tổng công suất 377MW; 31 dự án đã ký hợp đồng mua bán điện với tổng công suất 1.662MW, kế hoạch đi vào vận hành trong năm 2020 và 2021.

Ngoài ra, còn gần 250 dự án điện gió, có tổng quy mô công suất tới 45.000MW đang đề nghị bổ sung quy hoạch. Đây là con số thể hiện sự quan tâm rất lớn của các chủ đầu tư về loại hình năng lượng này.

Đánh giá về các dự án đã hoạt động và dự án được bổ sung vào quy hoạch, ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió tỉnh Bình Thuận cho rằng con số này đang có sự chênh lệch lớn. Lý do phải kể đến là việc thi công điện gió phức tạp hơn rất nhiều so với điện mặt trời, đặc biệt là với điện gió ngoài khơi. Đơn cử như bàn giao diện tích mặt biển cho chủ đầu tư đang vướng nhiều thủ tục như cho thuê đất thế nào, an ninh quốc phòng, cho thuê toàn bộ diện tích hay chỉ thuê móng trụ? Đây là những vấn đề chưa có tiền lệ. 

Ngoài ra, trong Quyết định 39 còn thiếu nhiều chính sách phát triển điện gió ngoài khơi xa bờ, thêm vào đó, thời hạn để hưởng giá FIT theo Quyết định này là cuối năm 2021 chỉ còn 18 tháng, không đủ để nhà đầu tư triển khai đầu tư các dự án điện gió mới. Trong khi vì lý do dịch bệnh COVID-19, nhiều nước, nhiều doanh nghiệp đã tạm dừng sản xuất, không thể cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị thi công. Các nhà thầu cũng không thể đảm bảo tiến độ thi công trước thời hạn trên.   

“Chúng tôi rất cần sau thời điểm đó, giá FIT mới như thế nào, bởi không có mức giá thì doanh nghiệp không có cơ sở để lập dự án đầu tư cho mục tiêu phát điện sau năm 2021. Rất mong, Chính phủ trước mắt có thể gia hạn thời gian hưởng giá FIT này để hỗ trợ cho doanh nghiệp”, ông Thịnh nói.

Đồng quan điểm trên, theo ông Lê Anh Tùng, đại diện Công ty Ecotech, các dự án của doanh nghiệp này thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn về mốc thời gian hưởng ưu đãi trên. Các nhà sản xuất thiết bị dừng sản xuất, có thể chậm trễ trong giao hàng. Nên việc gia hạn giá FIT là rất cần thiết đối với doanh nghiệp.  

“Hiện nay, các dự án đã được triển khai không thể dừng đầu tư hay thi công được. Nhưng nếu tiếp tục đầu tư, xây dựng mà không kịp thời hạn thì thực sự là rất khó khăn vì sẽ không có mức giá điện để thanh toán, mua bán”, ông Tùng cho hay.

Việc kéo dài giá FIT điện gió là rất cần thiết vì những rào cản liên quan đến làm dự án này nhiều và phức tạp hơn so với điện mặt trời; trong đó, rào cản lớn nhất là Luật Quy hoạch khi quy hoạch về không gian biển chưa có, tiếp theo nữa là các hướng dẫn liên quan đến an ninh quốc phòng với các dự án triển khai ngoài khơi… Đó là chưa tính đến câu chuyện kỹ thuật cao, chậm tiến độ giao hàng…   

Để gỡ khó cho doanh nghiệp, mới đây, Bộ Công thương đã có văn bản đề nghị Chính phủ cho các dự án điện gió được hưởng cơ chế giá mua điện cố định tới hết tháng 12/2023, sau đó mới tiến hành đấu thầu, đấu giá cạnh tranh để chọn nhà phát triển dự án.

Tuy nhiên, ngoài câu chuyện về cơ chế giá, những khó khăn trong thi công, các luật liên quan, thì vấn đề nhiều doanh nghiệp lo ngại là lưới điện liệu có thể theo kịp số lượng lớn công suất của các dự án đưa lên lưới.

Mặc dù cho rằng, mức giá hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo (Feed-in Tariff – FIT) cho điện gió là hấp dẫn, song nhiều nhà đầu tư và chuyên gia vẫn băn khoăn về các chính sách liên quan đến loại hình năng lượng này.

Theo Tờ trình số 1931/BCT-ĐL ngày 19/3/2020 của Bộ Công thương về việc xem xét bổ sung quy hoạch các dự án điện gió, với kịch bản cơ sở và kịch bản cao đến năm 2020 điện gió Việt Nam đạt tổng công suất trên 1.000MW; đến năm 2025 kịch bản cơ sở là 6.000MW và kịch bản cao là 11.630MW, nhằm thay thế cho sản lượng điện từ nguồn nhiệt điện than và nhiệt điện dầu có chi phí sản xuất rất cao và góp phần giảm phát thải khí CO2.

Ông Bùi Văn Thịnh cho rằng, hiện nay, tại khu vực tỉnh Bình Thuận, điện gió Phú Lạc vẫn bị cắt giảm công suất, thời điểm cao nhất cắt giảm 61%, bình quân thất thoát 20% sản lượng điện hàng quý, hàng tháng do lưới điện không đáp ứng được.

“Vậy câu chuyện đặt ra là làm thế nào để có sự đồng bộ về nguồn và lưới trong những năm tới khi lượng điện tái tạo đưa vào lớn, tập trung ở một số tỉnh”, ông Thịnh đặt câu hỏi và đề nghị quy hoạch phải rõ ràng hơn, cụ thể, với quy hoạch nguồn điện như vậy thì lưới điện, nguồn điện dự phòng như thế nào? Nếu không làm kỹ quy hoạch thì sẽ gặp tình trạng đầu tư vào mà không giải tỏa được công suất. Hay ngược lại, với lưới điện hiện nay thì nguồn điện gió, điện mặt trời đưa vào bao nhiêu là phù hợp. Với phương án cao như Bộ Công thương đưa ra thì lưới điện sẽ được triển khai như thế nào? Cần phải có những kiến nghị bằng con số rõ ràng hơn, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng không truyền tải được công suất, gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp, lãng phí nguồn lực đầu tư.

Theo TS Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh, các kết quả tính toán cho thấy, theo danh mục các dự án đăng ký bổ sung quy hoạch và đã bổ sung quy hoạch, từ sau năm 2020, tắc nghẽn của các dự án năng lượng tái tạo vẫn rất cao và với hiện trạng hiện nay là không thể giải quyết được. Đây là thách thức lớn giữa chủ đầu tư, ngành Điện và Bộ Công thương. Hi vọng rằng, trong Tổng sơ đồ điện VIII được đưa ra thời gian tới sẽ có điều chỉnh và tiếp cận phù hợp hơn.