Bị ép giảm công suất phát điện : Ông chủ hai nhà máy điện gió Bình Thuận kêu cứu

Chủ tịch Hiệp hội Điện gió tỉnh Bình Thuận đã gửi kiến nghị lên Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam về việc bị cắt giảm công suất khi đường dây quá tải, trái với thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán điện (PPA) được ký giữa các dự án này với ngành điện trước đó.

“Nếu các dự án điện gió trên địa bàn Bình Thuận tiếp tục bị cắt giảm công suất như vừa qua thì chủ đầu tư sẽ kiến nghị lên các cấp cao hơn để làm rõ trách nhiệm và đòi bồi thường cho những thiệt hại này”, ông Bùi Vạn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió Bình Thuận cho hay.

Nguyên nhân của tình trạng này, theo phân tích của ông Thịnh là bởi việc cho phép xây dựng các dự án điện mặt trời ồ ạt, không tính đồng bộ giữa triển khai dự án nguồn và lưới truyền tải nên đã, đang và sẽ gây quá tải nghiêm trọng cho lưới điện khu vực và thiệt hại cho các chủ đầu tư.

Cụ thể, đường dây 110 kV Phan Rí – Ninh Phước có công suất chỉ khoảng trên 100 MW và đã có 2 dự án điện gió là Phú Lạc 1 có quy mô 24 MW và Bình Thạnh 1 có quy mô 30 MW đã đấu nối từ trước. Tuy nhiên, trong vài tháng qua đã có trên 10 dự án điện mặt trời được đấu nối vào đường dây này với tổng công suất thiết kế khoảng 400 MW. Nghĩa là vượt xa khả năng tải điện của đường dây hiện hữu.

Bởi vậy, cơ quan điều độ hệ thống điện đã yêu cầu các dự án trên lưới giảm tải vào ban ngày gần như tất cả các ngày trong tháng 6/2019. Mức độ giảm tải cũng rất lớn với 38% đến 65% công suất thiết kể và giảm đều rất cả dự án trên lưới, bất kể là dự án điện gió hay điện mặt trời, bất kể là hòa lưới điện trước hay sau.

Đáng nói là Dự án điện gió Phú Lạc 1 và Bình Thạnh 1 khi ký Hợp đồng mua bán điện với ngành điện không hề có điều khoản tự cắt giảm công suất khi đường dây quá tải. Điều này khác với nhiều dự án điện mặt trời có phụ lục nhắm mắt chấp nhận giảm tải để được ký hợp đồng mua bán điện với ngành điện, kịp đưa nhà máy hoạt động trước ngày 30/6/2019, để được hưởng lợi mức giá điện cao ngất ngưởng là 9,35 Uscent/kWh trong suất 20 năm vận hành.

Bởi vậy, ông Thịnh cũng đề nghị Bộ Công thương và EVN không tiếp tục cắt giảm công suất 2 dự án điện gió là Phú Lạc 1 và Bình Thạnh 1.

“Việc dự án điện mặt trời được cấp phép ồ ạt, trong khi quy hoạch lưới điện và nhất là thi công lưới điện không đồng bộ là thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, không phải trách nhiệm của nhà đầu tư”, ông Thịnh nói.

Như vậy, sự thiếu đồng bộ trong việc cho phép triển khai các dự án điện mặt trời một cách ồ ạt thời gian qua tại một số địa phương, trong khi lại không quy hoạch lưới điện để giải tỏa công suất cho các dự án này từ các cơ quan hữu trách, cụ thể ở đây là Bộ Công thương đang gây lãng phí lớn cho xã hội, làm méo mó thị trường năng lượng tái tạo mà Việt Nam có nhiều tiềm năng và đang kêu gọi đầu tư khai thác.

Đăk Lăk : Đẩy mạnh điện mặt trời áp mái

Vài năm trở lại đây, tại tỉnh Đắk Lắk nhiều đơn vị, hộ gia đình đã đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái. Sau khi phát điện, ngoài tạo ra nguồn điện để phục vụ sản xuất, sinh hoạt thì sản lượng điện dư thừa sẽ được ngành điện mua lại tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho chủ đầu tư.

Sau thời gian nghiên cứu và được sự tư vấn của ngành điện, từ năm 2017, Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đắk Lắk đã bắt đầu lắp hệ thống điện mặt trời áp mái cho hệ thống 5 cửa hàng. Tổng công suất lắp đặt khoảng 86 MWp, với số vốn đầu tư gần 5 tỷ đồng. Đến nay, việc lắp đặt đã hoàn thành và phát điện, các thông số kỹ thuật ổn định.

Ông Trương Văn Hùng, Giám đốc Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đắk Lắk cho biết, trước đây, mỗi tháng đơn vị phải trả gần 50 triệu đồng tiền điện để phục vụ cho hoạt động của chuỗi các cửa hàng. Mặc dù đã áp dụng nhiều hình thức tiết kiệm điện như hạn chế sử dụng điều hòa, sử dụng bóng đèn có công suất nhỏ… nhưng tiền điện hàng tháng giảm không đáng kể, ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận hàng năm. Tuy nhiên sau khi đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái công ty đã chủ động được nguồn điện trong kinh doanh, thậm chí hàng tháng còn dư thừa bán cho điện lực.“Riêng đợt thanh toán vừa rồi, công ty đã nhận được 240 triệu đồng từ bán điện dư thừa cho điện lực”, ông Hùng cho biết.

Theo ông Hùng tính toán, với sản lượng điện sản xuất như hiện nay, công ty chỉ mất khoảng gần 5 năm để hoàn vốn đầu tư. Thời gian khai thác về sau (đến hết tuổi thọ của pin), công ty sẽ không phải mua điện lại có thêm khoản lợi nhuận từ bán điện dư thừa.

Tương tự, gia đình anh Trần Quốc,  phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời công suất 5 kWp vào cuối năm 2018 với chi phí 100 triệu đồng, sản lượng điện trung bình đạt 20-25 kWh/ngày. Trước đây, tiền điện hằng tháng của gia đình anh luôn ở mức trên 3 triệu đồng/tháng. Từ khi hệ thống đi vào hoạt động, chi phí tiền điện hằng tháng của gia đình giảm được 50%.

Theo Công ty Điện lực Đắk Lắk, đến cuối tháng 6 toàn tỉnh có 144 khách hàng đã lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất đặt lên tới 1MWp; trong đó, một số khách hàng có công suất lắp đặt lớn như: Công ty cổ phần đầu tư Xây Dựng và Kinh Doanh chợ Buôn Ma Thuột có công suất 438 kWp; Công ty cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đắk Lắk công suất 86 kWp.

Thực tế cho thấy, việc phát triển điện mặt trời áp mái nhà đã mang lại hiệu quả rõ rệt cho chủ đầu tư. Nhiều đơn vị, hộ gia đình sản lượng điện sản xuất hàng ngày dùng không hết đã đấu nối phát lên lưới, được ngành điện mua lại tạo ra nguồn lợi nhuận đáng kể. Hiện ngành điện Đắk Lắk đang mua điện dư thừa của 32 khách hàng với tổng số tiền đã thanh toán gần 600 triệu đồng.

Ông Lê Hoài Nhơn, Phó Giám đốc Công ty Điện Lực Đắk Lắk cho biết, Đắk Lắk là một trong những địa phương có tiềm năng về điện mặt trời rất lớn, với cường độ bức xạ mặt trời trung bình đạt 5kWh/m2/ngày, tiềm năng phát triển điện mặt trời có thể đạt đến 95 GWh/năm. Trước những lợi ích trong sử dụng nguồn năng lượng này, Công ty Điện lực Đắk Lắk đã triển khai lắp đặt hệ thống điện mặt trời trên mái nhà tại trụ sở chính của công ty và tiếp tục triển khai đến các Điện lực trực thuộc. Đồng thời, đơn vị cũng tích cực tuyên truyền lợi ích của điện mặt trời trên mái nhà và vận động khách hàng lắp đặt; trong đó, công ty chú trọng vào các khách hàng ở các khu vực có tiềm năng lớn như Ea Súp, Buôn Đôn.

Mặt khác, Công ty Điện lực Đắk Lắk cam kết thực hiện tư vấn và hỗ trợ hết mức cho khách hàng về công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng kỹ thuật của hệ thống điện mặt trời trên mái nhà trước khi đưa vào vận hành. Người dân có nhu cầu đầu tư điện mặt trời áp mái sẽ được ngành Điện hướng dẫn cụ thể về thủ tục, thỏa thuận vị trí đấu nối công trình và phối hợp xử lý các vướng mắc trong quá trình triển khai. Khi công trình hoàn thành, bảo đảm các điều kiện kỹ thuật theo thiết kế, sẽ được nghiệm thu, chủ đầu tư và ngành Điện thực hiện ký hợp đồng mua bán điện, lắp đặt công tơ hai chiều để đo đếm sản lượng tiêu thụ, sản lượng phát lên lưới. Hằng tháng, ngành Điện sẽ ghi nhận sản lượng điện giao nhận và trả tiền với sản lượng điện dư thừa.

Theo ông Lê Hoài Nhơn, hiện nay, tỷ suất đầu tư ban đầu của điện mặt trời dao động từ 20-25 triệu đồng/kWp (tùy thuộc chất lượng, tuổi thọ của thiết bị). Với công suất 1 kWp, mỗi ngày sẽ sản xuất được sản lượng điện 5-6 kWh, với số giờ nắng trung bình tại Đắk Lắk là 4,5-6 giờ/ngày. Vì vậy, tùy vào diện tích lắp đặt, nhu cầu sử dụng mà các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình mà đầu tư phù hợp. Trước khi đầu tư, người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin về chi phí, chất lượng, tuổi thọ thiết bị và hiệu quả công trình vì công suất nguồn năng lượng mặt trời phụ thuộc theo điều kiện thời tiết và một số yếu tố khác. Thời gian thu hồi vốn của các công trình điện mặt trời áp mái khoảng 6 năm, nếu đầu tư với công suất lớn thì suất đầu tư sẽ giảm và thiết bị đạt hiệu suất lớn, thời gian hoàn vốn là 5 năm.

“Mới nhìn vào tỷ suất đầu tư 1KWp thì thấy cao, nhưng tính thời gian khai thác thì việc đầu tư rất hiệu quả. Bởi sau khi hoàn vốn, chủ đầu tư sẽ được sử dụng điện miễn phí, giảm chi phí rất lớn trong sản xuất, sinh hoạt do tuổi thọ của các tấm pin mặt trời thể kéo dài khoảng 20 – 22 năm”, ông Nhơn khẳng định.

Hiện nay, đầu tư phát triển năng lượng mặt trời; trong đó, có điện mặt trời áp mái đang được nhà nước khuyến khích. Đây là giải pháp vừa mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà đầu tư, vừa góp phần giảm sức ép cho ngành điện. Trong bối cảnh giá điện mới được điều chỉnh tăng lên, điện mặt trời áp mái sẽ càng có hiệu quả hơn.

Tây Ninh phát triển mạnh mô hình sử dụng điện Mặt Trời

Theo Giám đốc Công ty Điện lực Tây Ninh, mô hình Điện Mặt Trời áp mái hiện có rất nhiều người dân đầu tư và cho thấy hiệu quả rõ rệt; cụ thể, các hộ gia đình đã giảm được chi phí tiền điện.

Nằm trên vùng Đông Nam Bộ, tỉnh Tây Ninh có lợi thế là địa bàn ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lụt; số giờ nắng nóng kéo dài trung bình lên tới từ 2.220-2.500 giờ trong năm, cao hơn 20% so với các địa phương khác.

Từ lợi thế, tiềm năng kể trên, cùng với giá điện càng ngày tăng cao, chi phí hàng tháng của hộ gia đình tăng thêm, nhiều gia đình và hộ sản xuất nhỏ tại Tây Ninh đã chọn giải pháp lắp đặt hệ thống điện năng lượng Mặt Trời trên mái nhà. Đồng thời, kết nối với hệ thống lưới điện quốc gia, vừa có nguồn điện tự cung, tự cấp cho sinh hoạt, sản xuất vừa thêm thu nhập từ nguồn điện dôi dư bán ra cho ngành điện.

Sau thời gian lắp đặt 10 tấm pin điện năng lượng Mặt Trời trên mái nhà thấy có hiệu quả, tháng Năm vừa qua ông Nguyễn Văn Tốt ở khu phố 5, phường 1, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đã mạnh dạn lắp đặt thêm 32 tấm pin nữa trên diện tích mái nhà còn lại.

Với tổng công suất điện thu được là khoảng 14,80KWp mỗi tháng, không chỉ đảm bảo cung cấp đủ điện sinh hoạt cho gia đình với mức 2,5 triệu tiền điện/tháng trước đây, ông Tốt còn bán lại lượng điện năng kết dư cho ngành điện với số tiền khoảng 1,8 triệu đồng/tháng.

Theo tính toán của ông Tốt, với số tiền ban đầu bỏ ra là 390 triệu đồng, sau hơn 5 năm vừa sử dụng đủ cho gia đình, vừa bán được số điện dôi dư, ông có thể thu hồi lại được vốn, trong khi các tấm điện năng lượng Mặt Trời được nhà cung cấp bảo hành 10 năm. Như vậy, việc sử dụng hệ thống này vẫn có lãi, mà nguồn điện sử dụng lại được ổn định hơn.

Còn hộ anh Lưu Xuân Minh tại ấp Tân Hòa, xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh cũng quyết định nâng cấp hệ thống năng lượng Mặt Trời trên mái nhà từ 3 KWp lên 6 KWp để có đủ điện để phục vụ cho cơ sở gia công hạt điều tại nhà, vừa để có dư điện bán lại cho ngành điện.

Bà Lê Thị Phấn, quản lý Dưỡng lão đường Quy Thiện, huyện Hòa Thành, Tây Ninh, cũng chia sẻ, do là đơn vị từ thiện, kinh phí hoạt động chủ yếu nhờ các nhà hảo tâm quyên góp, để hạn chế chi phí tiền điện, trại dưỡng lão phải hạn chế tối đa các thiết bị sử dụng điện, kể cả quạt gió. Tuy nhiên, từ ngày lắp được hệ thống điện Mặt Trời với khoảng 3KWp trên mái nhà, các bà lão ở đây rất mừng. Mọi người được sử dụng điện thoải mái hơn, nhất là trời nắng nóng.

Anh Phạm Đức Sơn, đại diện Samtrix Solar tại Tây Ninh, cho biết trước đây công ty của anh chỉ chuyên cung cấp Vật liệu xây dựng và thiết bị điện.

Kể từ tháng Ba năm nay đến nay do nhu cầu lắp đặt tấm pin điện năng lượng Mặt Trời trên mái nhà của các hộ dân trong tỉnh tăng cao, anh chuyển qua kinh doanh thêm công việc này.

Đến nay, chỉ riêng công ty anh đã lắp đặt hệ thống điện Mặt Trời được trên 70 hộ, với tổng công suất trên 900KWp.

Theo anh Sơn, hiện nhu cầu lắp đặt điện Mặt Trời trên mái nhà của doanh nghiệp và người dân trong tỉnh rất lớn, nhưng vẫn còn một số hạn chế là do một số trạm biến áp nhiều nơi của ngành điện chưa đáp ứng được nhu cầu đấu nối của người dân khi lắp đặt hệ thống điện Mặt Trời với công suất 10KWp trở lên. Do đó, các hộ dân và doanh nghiệp muốn lắp đặt và nâng công suất tấm pin điện Mặt Trời lên công suất lớn hơn 10KWh nhiều nơi cũng không được cho phép.

Theo ông Nguyễn Tấn Hùng, Giám đốc Công ty Điện lực Tây Ninh, mô hình điện Mặt Trời áp mái hiện có rất nhiều người dân đầu tư và cho thấy hiệu quả rõ rệt. Cụ thể, các hộ gia đình đã giảm được chi phí tiền điện, đặc biệt những hộ gia đình sử dụng điện từ mức 200Kwh trở lên với giá điện bậc thang cao – tầm khoảng 2.300 đồng trở lên, khi lắp điện năng lượng Mặt Trời thì đã giảm bớt khung giá nhờ nguồn điện gia đình phát được, từ đó tiền điện giảm xuống đáng kể.

Chính vì vậy, kể từ khi ngành điện mở đợt tuyên truyền tiết kiệm điện; trong đó, khuyến khích người dân lắp đặt hệ thống điện Mặt Trời áp mái từ tháng Ba năm nay, tính đến ngày 21/6 vừa qua tỉnh Tây Ninh hiện có hơn 289 khách hàng (doanh nghiệp nhỏ, hộ gia đình) đầu tư lắp đặt hệ thống điện Mặt Trời áp mái với tổng công suất lắp đặt là 4.641,2KWp, chưa kể số khách hàng đang lắp đặt, sẽ đấu nối vào mạng lưới điện quốc gia trước 30/6 tới với công suất thêm khoảng 3.641,2KWp. Theo ông Hùng, trước khi lắp đặt, khách hàng nên lựa chọn các sản phẩm pin năng lượng mặt trời có thương hiệu, xuất xứ rõ ràng.

Năm 2019, Công ty Điện lực tỉnh Tây Ninh có kế hoạch vận động khoảng 1.000 khách hàng lắp đặt hệ thống điện Mặt Trời áp mái để nâng tổng công suất điện theo mô hình này lên khoảng trên 10.000KWp; đồng thời, tiền hành khảo sát, nâng cấp một số trạm biến áp để đáp ứng nhu cầu đấu nối của hệ thống điện Mặt Trời áp máy của người dân và doanh nghiệp./.

Nhiều nhà băng tham gia tài trợ dự án Điện Mặt Trời công suất lớn

Hầu như ngân hàng nào cũng có các gói cho vay điện mặt trời và thực tế cũng có những gói nghìn tỷ được ký kết, giải ngân. Tuy nhiên, các nhà băng cho biết sẽ quy định điều kiện cho vay tương đối chặt chẽ do đặc tính của những khoản vay này là trung, dài hạn.

Dự án 1.000 tỷ được vay 700 tỷ đồng

Điều kiện để các doanh nghiệp làm điện mặt trời được hưởng giá bán 9,35 cent/kWh (mức giá cao so với nhiều nước khác) là có chứng chỉ vận hành thương mại (COD) trước ngày 30/6. Điều này tạo nên cảnh “chạy đua” tham gia đầu tư trước hạn chót của nhiều doanh nghiệp. Song hành với đó, không ít ngân hàng cũng tung ra những gói vay để tạo cơ hội cho nhà đầu tư. Hạn mức cho vay tại các nhà băng phổ biến là 70% vốn đầu tư dự án và bảo hiểm 75% sản lượng điện trong 5 năm.

Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) đầu năm hợp tác thu xếp nguồn vốn tài trợ bổ sung vốn lưu độngvới TTC Energy, tài trợ đầu tư hệ thống năng lượng mặt trời cho thuê.

VietinBank cũng công bố tài trợ 1.000 tỷ đồng, tương đương 62,5% tổng vốn đầu tư cho dự án điện mặt trời TTC 01 tại Tây Ninh.

Năm 2017, Agribank và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cũng ký thỏa thuận đồng tài trợ vốn cho nhà máy điện mặt trời Phong Điền (Thừa Thiên Huế) với vốn đối ứng của chủ đầu tư chiếm 40%, vốn vay các ngân hàng chiếm 60%.

SHB có gói cho vay đối với các dự án năng lượng tái tạo công suất không quá lớn. Cụ thể, cùng sự hỗ trợ của World Bank, ngân hàng giảm trừ trực tiếp vào lãi suất vay còn 1,5%/năm với hạn mức tối đa 80% trong 15 năm cho các dự án có công suất không quá 30 MW. Chủ đầu tư cũng được tư vấn thêm về vấn đề kỹ thuật, an toàn đập, môi trường xã hội.

Có doanh nghiệp nói rằng tiếp cận vốn ngân hàng để làm điện mặt trời không hề dễ. Ảnh minh họa.

Ngoài cho vay vốn đầu tư dự án thì nhiều ngân hàng cũng hợp tác với doanh nghiệp cho vay khách hàng dùng hệ thống năng lượng mặt trời.

Chẳng hạn, BIDV phối hợp với Solar đưa ra các gói giải pháp điện mặt trời hỗ trợ các hộ gia đình. Hạn mức cho vay tối đa 75% tổng vốn đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái công suất 2-10 kWp với thời hạn 12-36 tháng, lãi suất 10%/năm.

Tương tự, HDBank cũng cho vay doanh nghiệp đầu tư xây lắp các dự án điện mặt trời trên mái nhà, hạn mức tối đa 10 tỷ đồng, thơi hạn 5 năm.

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) cũng là một trong số những nhà băng tham gia cấp vốn cho dự án điện mặt trời, đơn cử như nhà máy Phước Hữu công suất lắp đặt 65 MWp của CTCP Đầu tư Xây dựng Vịnh Nha Trang. Cụ thể, MSB cấp vốn cho Vịnh Nha Trang thông qua việc mua toàn bộ 650 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 10 năm do công ty phát hành với lãi suất cổ định năm đầu tiên là 10% và các kỳ tiếp theo là tổng của lãi tiền gửi tiết kiệm cá nhân kỳ hạn 12 tháng tại MSB cộng với biên độ 3,5%/năm.

Ngân hàng phải “chọn mặt gửi vàng”

Một lãnh đạo doanh nghiệp đang đầu tư điện mặt trời tại Ninh Thuận chia sẻ làm ngành này, tiếp cận vốn từ ngân hàng không dễ. Nguyên nhân một phần đến từ việc “người người, nhà nhà” đổ tiền làm điện mặt trời nên nhu cầu về vốn trung, dài hạn lớn trong khi nguồn cung có giới hạn. Chưa kể, đầu tư ồ ạt song không phải doanh nghiệp nào cũng có thể ký hợp đồng đấu nối vào lưới điện quốc gia.

Ở chiều ngược lại, cũng như Vietcombank, dù ủng hộ chủ trương phát triển năng lượng sạch, một số nhà băng tỏ ra khá cẩn trọng khi bỏ tiền cho vay điện mặt trời.

“Doanh nghiệp có năng lực tài chính tốt, kinh nghiệm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo cũng như vận hành các nguồn điện khác. Đặc biệt, các dự án đều phải có hồ sơ pháp lý tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường… là những cơ sở để ngân hàng chúng tôi nghiên cứu, xem xét cấp tín dụng”, ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank, chia sẻ vớiNgười Đồng Hành vềcác tiêu chí cho vay đối với các dự án năng lượng tái tạo, thuỷ điện vừa và nhỏ, nhiệt điện sinh thái, điện mặt trời.

Vietcombank đang cho vay 3 dự án là Srêkop 1, Srêkop 2 và BP Solar. Srêkop 1 có tổng mức đầu tư khoảng 1.200 tỷ đồng tại Đăk Lăk. Srêkop 2 và BP Solar 1 là 2 dự án ở Phước Hữu, Ninh Thuận.

Theo lãnh đạo Vietcombank, các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng này có thể tiếp cận vốn vay lên đến 70% tổng mức đầu tư. Tuy nhiên, tiêu chí ngân hàng đặt ra cho dự án không đơn giản: phải hoàn thành đúng tiến độ, hoà lưới điện quốc gia.

Phó Tổng giám đốc Vietcombank Phạm Mạnh Thắng cho biết yêu cầu về vốn đối ứng với từng dự án lại khác nhau nhưng mức phổ biến là tối thiểu 30% tổng mức đầu tư.

Ngân hàng sẽ đánh giá năng lực của chủ đầu tư, phân tích mức độ rủi ro của dự án trước khi quyết định tỷ lệ vốn đối ứng. Bên cạnh đó, khi cho vay các dự án như vậy thì ngân hàng cũng đánh giá các yếu tố trên khá kỹ càng. Dù thế, ông Thắng cho biết bởi điện mặt trời, điện gió là những lĩnh vực mới nên hiện còn nhiều hạn chế nhất định như đáp ứng về hạ tầng đấu nối, cơ chế giá… Đây cũng là những khó khăn nhất định cho ngân hàng trong quá trình thẩm định để đưa ra quyết định đầu tư, tài trợ vốn.

Ông Lê Thành Trung, Phó Tổng giám đốc HDBank, thông tin, khi cho vay, ngân hàng sẽ thẩm định theo quy trình rõ ràng và chỉ ưu tiên các dự án đấu nối vào lưới điện quốc gia. “Đấu nối là quan trọng, đó là điều kiện tiên quyết cho đầu ra của dự án vì không đấu nối thì doanh nghiệp cũng đâu có đầu tư được dự án điện mặt trời”, ông Trung bày tỏ.

Lãnh đạo HDBank cho biết hiện tại, lĩnh vực điện mặt trời nhận được quan tâm của nhiều ngân hàng. Khách hàng có 2 dạng. Một là những dự án lớn cung cấp tổng thể. Hai là dự án công suất vừa hoặc điện mặt trời áp mái cho các hộ gia đình.

Hiện HDBank cho vay dự án Sao Mai PV1 công suất 210 MWp do CTCP Tập đoàn Sao Mai (HoSE: ASM) làm chủ đầu tư với hạn mức 1.400 tỷ đồng, tương đương 70% tổng mức đầu tư. Trước đó, ngân hàng này cũng ký hợp đồng tín dụng với hạn mức tài trợ 760 tỷ đồng cho dự án nhà máy điện mặt trời tại Ninh Thuận của CTCP Điện Mặt Trời Mỹ Sơn – Hoàn Lộc Việt.

Nhà băng này cũng kết hợp với ký thỏa thuận hợp tác phát triển dự án điện mặt trời Fujiwara Bình Định có công suất thiết kế 50 MWp với công ty TNHH Fujiwara Bình Định.

Ngân hàng ngoại tỏ ra dè dặt

Chủ tịch SHB Đỗ Quang Hiển cho biết hiện nay ngân hàng này có 2 dự án cho vay đầu tư điện mặt trời với quy mô vừa phải. Nói với cổ đông tại phiên họp đại hội cổ đông của ngân hàng này năm 2019, ông Hiển cho biết các dự án này đều được thẩm định đúng quy trình theo điều kiện, đánh giá tính khả thi. “Các tập đoàn lớn nước ngoài đang tha thiết vào mua dự án năng lượng tái tạo của Việt Nam, nếu có rủi ro thì họ sẽ không dám đầu tư”, ông Hiển nói.

Ông cũng phân tích những năm tới, Việt Nam sẽ thiếu điện. Chính phủ khuyến khích đầu tư năng lượng tái tạo. Theo ông Hiển, vốn cho các dự án này khá đa dạng nhưng chủ yếu là vốn nước ngoài vì ngân hàng trong nước bị kiểm soát cho vay trung và dài hạn.

Tuy nhiên, chia sẻ với Người Đồng Hành, lãnh đạo một ngân hàng ngoại tại Việt Nam bày tỏ ngân hàng ông cũng quan tâm đến điện mặt trời, song hiện mới chuẩn bị phần cho vay khách hàng cá nhân mua thiết bị gắn pin.

Với cho vay doanh nghiệp, ngân hàng đang làm việc nhưng chưa có giao dịch nào có thể công bố. Lãnh đạo cho biết cũng như cho vay các lĩnh vực khác, tiêu chí mà hầu hết ngân hàng đặt ra cho dự án điện mặt trời là tính khả thi, có thể tồn tại, phát triển được và phía bên cho vay quản trị được các rủi ro nếu có.

Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam, phân tích, khó khăn lớn nhất của nhiều dự án là không dễ để tiếp cận được nguồn đất sạch. Vấn đề thứ hai, theo ông, là không phải dự án nào triển khai thì sẽ được đấu nối vào lưới điện quốc gia. Cuối cùng là việc bán điện.

“Ví dụ tổng lượng cung của nguồn điện khu vực đó mà nhiều hơn khả năng truyền tải lưới điện thì có khi cũng chỉ được mua đúng công suất truyền tải. Nói chung là sự không chắc chắn”, vị này nhận xét. Do đó, ông cho rằng phát triển năng lượng xanh là xu thế tất yếu nhưng khi cung ứng tài chính, các tổ chức tín dụng cũng cần tính toán hợp lý.

Trong khi các doanh nghiệp đang “đổ bộ” vào lĩnh vực điện mặt trời, năng lượng tái tạo nhằm hưởng những ưu đãi trong giai đoạn đầu của Chính phủ, các ngân hàng cũng bị cuốn vào làn sóng đầu tư này. Tuy nhiên, sự xuất hiện của hàng loạt dự án điện mặt trời đã đặt ra những lo ngại về việc quá tải công suất hệ thống.

Các chuyên gia nhận định sự bùng nổ điện mặt trời khiến việc nâng cấp hạ tầng mạng lưới điện quốc gia trở nên cấp thiết. Nếu quá trình này không theo kịp tốc độ phát triển của điện mặt trời, các dự án có thể sẽ không được hòa lưới hoặc bị sa thải phụ tải dù có hợp đồng mua bán điện (PPA). Khi đó, doanh nghiệp và tổ chức tín dụng có thể rơi vào bế tắc.

Cơ cấu năng lượng : Nhiệt điện than hay điện mặt trời?

Tính hai mặt của bất kỳ loại hình năng lượng nào, dù là nhiệt điện than hay Điện mặt trời, cho thấy vai trò quan trọng của KH&CN trong giảm thiểu rủi ro đầu tư và ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực năng lượng.

Lắp đặt các tấm pin tại nhà máy điện mặt trời Bình Phước


Từ nhiều góc độ, nhiệt điện than là câu chuyện năng lượng thời sự không chỉ của Việt Nam mà còn của thế giới. Thông qua các báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (ICPP) hay những thông tin cập nhật về chính sách năng lượng của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiệt điện than luôn được đề cập đến như một nguồn năng lượng sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây phát thải khí nhà kính cần được cắt giảm. Mới đây, trên Reuters, cựu thị trưởng New York và tỉ phú Michael Bloomberg cho biết sẽ đóng góp 500 triệu USD cho quá trình đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than trên khắp nước Mỹ. 

Tuy nhiên đó là hướng giải quyết trong tương lai bởi chúng ta cũng cần phải nhìn nhận một thực tế, hiện tại chưa có giải pháp năng lượng nào có thể thay thế triệt để nhiệt điện than nên nó vẫn là một trong những nguồn cung điện chủ yếu trong phần lớn các quốc gia trên thế giới. Ví dụ theo số liệu năm 2015 của Cơ quan Năng lượng thế giới (IEA), ba nguồn cung điện lớn nhất thế giới là nhiệt điện than 39,3 %, nhiệt điện khí 22,9%, thủy điện 16% còn ở Việt Nam lần lượt là thủy điện 36,6%, nhiệt điện khí 33,2% và nhiệt điện than 29,6%. Ngay trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh ban hành năm 2016 thì vị trí áp đảo của nhiệt điện than được nhấn mạnh rõ nét hơn trong cơ cấu điện năng của Việt Nam: 49,3% vào năm 2025 và 55% năm 2030. Trong một bài viết trên Tia Sáng năm 2017, TS. Nguyễn Thành Sơn (Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam) đã thừa nhận, “khi chúng ta đã ‘lùi tiến độ’ điện hạt nhân thì chỉ còn cách đẩy nhanh tiến độ các dự án khác để bù vào. Nếu lấy chi phí biên dài hạn làm chuẩn, thứ tự ưu tiên các nguồn điện ở Việt Nam hiện nay sẽ là thủy điện (lớn, vừa, nhỏ), nhiệt điện than (lớn, vừa), nhiệt điện khí (hóa lỏng), nhiệt điện dầu”.

Góc nhìn từ hiệu quả tài chính

Trong bối cảnh đó, báo cáo “Thời của mặt trời và gió: Cuộc cách mạng năng lượng tái tạo chi phí thấp của Việt Nam và những tác động của nó đối với các khoản đầu tư nhiệt điện than” của nhóm Sáng kiến Carbon Tracker – những người đã chứng minh được sự tồn tại và tác động của rủi ro khí hậu trong các thị trường vốn hiện nay, đã đem đến cái nhìn mới vào nhiệt điện than từ góc độ đầu tư tài chính. Trên cơ sở các mô hình kinh tế của nhiệt điện than, họ cho rằng, đầu tư mới cho điện Mặt trời và điện gió trên bờ sẽ rẻ hơn vận hành các nhà máy điện than hiện có với thời điểm sớm nhất vào năm 2022 và muộn nhất vào năm 2039. Khi đó, nhiệt điện than có thể sẽ mất đi một trong những ưu điểm nổi bật của nó là chi phí nguyên liệu thấp so với điện Mặt trời và điện gió. Việc đầu tư vào nhiệt điện than sẽ không còn hấp dẫn nữa bởi theo các chuyên gia Carbon Tracker, thời gian thu hồi vốn cho các khoản đầu tư vào điện than thường trong khoảng từ 15 đến 20 năm và “các khoản đầu tư này có tính rủi ro cao bởi đốt than để tạo ra điện khó có thể là một lựa chọn có chi phí thấp nhất trước khi hoàn vốn”. Để gia tăng sự cạnh tranh với điện gió và điện Mặt trời, nhiệt điện than phải nâng khả năng điều chỉnh linh hoạt công suất phát điện lên. Đây sẽ là nguyên nhân gia tăng chi phí vận hành, bảo trì các nhà máy và càng khiến điện than càng bất lợi về mặt kinh tế.

Mặt khác, dù có phát triển nhiệt điện than theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh nhưng Việt Nam cũng không nên quên bản cam kết thực thi Công ước khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC): Việt Nam sẽ cắt giảm tới 25% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030 để đạt được mục tiêu nhiệt độ toàn cầu tăng dưới 2°C. Vậy điều gì sẽ xảy ra khi một mặt Việt Nam thực thi cam kết giảm phát thải trong kịch bản khí hậu tăng lên dưới 2°C, mặt khác vẫn gia tăng công suất điện than theo quy hoạch? Theo các chuyên gia Carbon Tracker, đó là “nguy cơ mắc kẹt tài sản” (stranded asset risk) – sự chênh lệch giữa các dòng vốn đầu tư dưới sự điều tiết của thị trường điện Việt Nam hiện tại và việc phải tuân thủ quy định để đảm bảo cam kết cắt giảm khí thải, trong đó mốc dừng vận hành các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam vào năm 2040. Theo cách tính của họ, ước tính giá trị tài sản có “nguy cơ bị mắc kẹt” của thế giới là 232 tỷ USD, còn Việt Nam ước tính là 6,5 tỷ USD, tương đương 2,7% GDP năm 2018 của Việt Nam. Dẫu sẽ còn phải tính đến những tác động mới của việc tự do hóa thị trường điện Việt Nam trong tương lai với hệ quả là giá điện có thể thấp hơn, nhưng với các tổ máy điện than đang trong quá trình xây dựng để tăng thêm công suất thì nguy cơ mắc kẹt tài sản đầu tư sẽ còn lớn hơn nữa. 

Với phân tích của các chuyên gia tài chính, trong tương lai gần, nhiệt điện than ngày càng yếu thế trước điện Mặt trời và điện gió – vốn ngày càng trở nên cạnh tranh hơn bởi giá thành đầu tư ngày càng hạ thấp, ví dụ rẻ gấp 4 lần so với vài năm trước đây. Do vậy, họ đề xuất giải pháp: việc dừng vận hành các nhà máy nhiệt điện than sớm theo Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu là lựa chọn ít tốn kém nhất cho Việt Nam trong tương lai.

Góc nhìn từ công nghệ 

Không dễ để loại bỏ nhiệt điện than khỏi cơ cấu năng lượng quốc gia như đề xuất của các chuyên gia tài chính, ít nhất là trong tương lai gần, bởi sự tồn tại hay không của một loại hình nào trong cơ cấu năng lượng quốc gia còn cần phải có sự cân nhắc về nền tảng công nghệ định hình năng lượng đó. 

Nhà máy nhiệt điện than Duyên Hải Trà Vinh

Dưới góc nhìn của các chuyên gia công nghệ, không phải ngẫu nhiên mà ở thời điểm hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới chưa chối bỏ được nhiệt điện than, dẫu nguồn phát điện này có khả năng phát thải khí nitrogen oxide (NOx), sulfur oxide (SOx), thủy ngân, kim loại, tro bay… Ưu điểm lớn nhất của nguồn phát điện này là tính ổn định cao và chi phí thấp bất kể vào thời gian ban ngày hay ban đêm. Do đó, ngay cả trong Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050, Nhật Bản cũng lựa chọn nhiệt điện than là một trong bốn loại hình năng lượng của nguồn phụ tải nền (base-load power source), cùng với địa nhiệt, thủy điện và điện hạt nhân. Hiệu quả kinh tế cũng chỉ là một phần trong triết lý lựa chọn năng lượng của Nhật Bản, vốn bao gồm đủ bốn yếu tố an toàn, an ninh năng lượng, môi trường và hiệu quả kinh tế.

Điểm yếu lớn nhất của điện Mặt trời và điện gió là tính không ổn định do phụ thuộc vào thời tiết. TS. Nguyễn Trần Thuật, một nhà nghiên cứu về năng lượng Mặt trời ở Trung tâm Nano và năng lượng (Đại học KHTN, ĐHQGHN) cho rằng, muốn khắc phục được nhược điểm này, cần có thiết bị lưu trữ điện năng vào ban ngày để có thể dùng nguồn điện thu được vào ban đêm, khi không có nguồn bức xạ mặt trời. Tuy nhiên, việc tìm ra một nguồn vật liệu đủ tốt và đủ khả năng chế tạo thiết bị lưu trữ không phải đơn giản, ngay với cả nhà phát minh tiên phong trong lĩnh vực điện Mặt trời là Elon Musk thì việc đầu tư vào nghiên cứu và chế tạo đã được tiến hành trong nhiều năm cũng chưa có kết quả như mong muốn. “Không riêng với năng lượng Mặt trời mà với các điện thoại thông minh, laptop, ô tô điện…, việc tìm ra một thiết bị lưu trữ năng lượng hiệu quả và không gây hại cho môi trường vẫn là bài toán khó dành cho các nhà nghiên cứu lẫn các nhà sản xuất. Nói chung, hiện vẫn chưa thể có giải pháp khả thi về thiết bị lưu trữ trong thời gian tới”, anh nhận xét. 

Hơn nữa, hiệu suất của điện mặt trời so với các năng lượng hóa thạch còn khá thấp. Theo TS. Nguyễn Trần Thuật, hiệu suất chuyển đổi năng lượng của các sản phẩm thương mại còn khá thấp khi mới ở mức 15 đến 17%, ngay cả trong điều kiện tối ưu của phòng thí nghiệm thì con số này vẫn chỉ là 25%.

Ngoài ra, nhìn một cách công bằng, điện tái tạo không có nghĩa là hoàn toàn không ảnh hưởng xấu đến môi trường bởi “chúng ta phải nhận thức là không có dự án nào do con người tạo ra lại có thể hoàn toàn tránh được điều đó”, theo nhận định của TS. Theocharis Tsoutsos (Trung tâm Các nguồn năng lượng tái tạo, Hy Lạp) trong công bố “Các tác động môi trường từ những công nghệ năng lượng Mặt trời” (Environmental impacts from the solar energy technologies) trên Energy Policy. TS. Rebecca Hernandez (Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley Mỹ) trong công bố “Các tác động môi trường của năng lượng Mặt trời ở quy mô hữu dụng” (Environmental impacts of utility-scale solar energy) trên Renewable and Sustainable Energy Reviews, còn cho rằng, trong trường hợp tái chế không đúng quy trình hay đơn giản là phá hủy các tấm pin Mặt trời, những nguồn chất thải công nghiệp này có thể gây nguy hiểm cho môi trường và sức khỏe con người, ví dụ việc hít phải bụi silica trong thời gian dài có thể dẫn đến bệnh bụi phổi (silicosis), một loại bệnh gây ra các mô sẹo trong phổi và suy giảm khả năng hô hấp, và trong nhiều trường hợp, có thể chết.

Đâu là lời giải cho bài toán năng lượng? 

Nhiệt điện than vẫn là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng

Những vấn đề đặt ra cho nhiệt điện than và điện Mặt trời cho thấy, KH&CN sẽ là một phần quan trọng trong các phương án giải quyết chúng. Với điện Mặt trời là tìm ra những vật liệu mới có khả năng tăng hiệu suất chuyển đổi năng lượng, ít độc hại với môi trường và một quy trình tái chế hiệu quả các tấm pin đã qua sử dụng, TS. Nguyễn Trần Thuật cho biết. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa có được những giải pháp công nghệ như vậy bởi sau một thời gian dài đầu tư công sức, các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn chưa thể tìm ra vật liệu mới hữu hiệu thay thế silica bởi vật liệu đó “phải đảm bảo các yếu tố khả thi về mặt công nghệ, thị trường và sản xuất”, anh nhận xét. 

Với nhiệt điện than, trong khi chưa có được một nguồn cung điện khác thay thế vị trí của nó thì giải pháp có thể dung hòa cả hai vấn đề trên, đó là đầu tư lắp đặt hệ thống kiểm soát khí thải của các nhà máy nhiệt điện than và áp dụng các công nghệ nhiệt điện than tiên tiến nhằm có được những công nghệ “sạch hơn”, tiêu tốn ít nhiên liệu mà vẫn đạt hiệu suất cao. Đây cũng là cách làm của nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, ví dụ như Mỹ. Trong Hội nghị quốc tế về Các công nghệ than sạch ở Houston vào ngày 4/6/2019 vừa qua, Lou Hrkman, người phụ trách Văn phòng quản lý Than sạch và Carbon (Bộ Năng lượng Mỹ) cho biết, Bộ này đang đầu tư hàng tỷ USD vào công nghệ để đảm bảo các nhà máy nhiệt điện than trong tương lai trở nên sạch hơn, hiệu quả hơn và linh hoạt hơn thông qua chương trình FIRST, viết tắt của các từ linh hoạt (Flexible), đổi mới sáng tạo (Innovative), dễ phục hồi (Resilient), công suất nhỏ (Small), dễ biến đổi (Transformative). “Chúng tôi không thấy Mỹ cần những nhà máy nhiệt điện than có công suất 1.500 đến 2.000 MW trong tương lai như đã làm trong quá khứ mà thấy tiềm năng ở các quốc gia đang phát triển về công nghệ lò công suất nhỏ, đặc biệt ở châu Phi và châu Á, những nơi cần các giải pháp mang tính kinh tế,” ông nói.

Tương tự với trường hợp của điện Mặt trời, đây cũng là giải pháp của tương lai. Hiện tại đối với các nhà máy nhiệt điện than vẫn đang vận hành theo công nghệ cũ thì việc cải thiện phát thải NOx, SOx, và bụi là việc có thể thực hiện với các hệ thống kiểm soát khí thải tiên tiến, như máy lọc có khả năng “bắt” 98% bụi, loại bỏ trên 90% khí NOx hay trên 90% thủy ngân và các kim loại nặng khác. Điểm trừ của các hệ thống kiểm soát khí thải này là đắt đỏ. Theo báo cáo “Thị trường toàn cầu về hệ thống kiểm soát khí thải cho các nhà máy nhiệt điện than” của QY Research vào năm 2018, nếu thị trường này trị giá 98,72 tỷ USD vào năm 2017 thì ước tính sẽ đạt 171,08 tỷ USD vào năm 2025.

Với riêng Việt Nam, theo TS. Nguyễn Xuân Quang (Viện Nhiệt điện lạnh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội), việc chúng ta có thể làm hiện nay là thực hiện các nghiên cứu khoa học về công nghệ điện than hiện hành cũng như hệ thống kiểm soát khí thải tiên tiến, qua đó từng bước cải tiến các quy trình công nghệ, một số chi tiết thiết bị quan trọng trong dây chuyền công nghệ cũng như nội địa hóa các hệ thống kiểm soát khí thải. 

Nguồn : Báo điện tử Tia Sáng

Hiệu quả kinh tế của hệ thống điện năng lượng mặt trời hòa lưới

Mô hình điện mặt trời trên mái nhà (áp mái) mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội: Nhà nước giảm tiền đầu tư nhà máy điện, trạm biến áp, đường dây; Các công ty điện lực giảm quá tải và sự cố điện; Đối với vùng sâu, vùng cao, hải đảo… điện mặt trời trên mái nhà đem lại hiệu quả cao về mặt chính trị, xã hội. Ngoài ra, hộ tiêu thụ điện giảm chi phí tiền, được bán điện cho công ty điện lực với giá cao hơn giá mua điện bậc 1-2-3… Tuy nhiên, để mô hình này phát triển nhanh, bền vững, Chính phủ cần xem xét cơ chế hỗ trợ về vốn vay ưu đãi và xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả cho khách hàng, cũng như hệ thống lưới điện.

Ngày nay, việc sử dụng năng lượng mặt trời cho mục đích phát điện không còn xa lạ với mọi người.

Do vị trí địa lý và khí hậu mà giá trị bức xạ của Việt Nam theo phương ngang dao động từ 897 kWh/m2/năm đến 2108kWh/m2/năm. Tương ứng giá trị 2,46 kWh/m2/ngày đến 5,77 kWh/m2/ngày.

Tổng diện tích khả dụng là rất lớn, chiếm gần 14% tổng diện tích toàn quốc, với tiềm năng kỹ thuật khả dụng đến 1.677.461 MW, sản lượng điện dự kiến 262.327 TWh/năm.

Dự án điện mặt trời trên mái nhà (ĐMTMN) là dự án điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà, hoặc gắn với công trình xây dựng do tổ chức, hoặc cá nhân làm chủ đầu tư có đấu nối và bán điện lên lưới điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

1/ Cơ chế mua bán điện

Theo Thông tư 05/2019-BCT, các dự án ĐMTMN được thực hiện cơ chế mua bán điện theo chiều giao và chiều nhận riêng biệt của công tơ điện đo đếm hai chiều.

Giá mua điện (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) là tiền Việt Nam đồng (tương đương với 9,35 UScents/kWh nhân với tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố).

Năm dự ánGiá mua điện (VNĐ)Tỉ giá VNĐ/ USD
Trước 01/01/20182.086 đồng/kWh (9,35 UScents/kWh)22.316 đồng/USD
01/01/2018 31/12/20182.096 đồng/kWh (9,35 UScents/kWh)22.425 đồng/USD
01/01/2019 31/12/20192.134 đồng/kWh (9,35 UScents/kWh)22.825 đồng/USD
Từ 2020tiền Việt Nam đồng tương đương với 9,35 UScents/kWhTheo tỉ giá NHNN ngày 31/12 của năm liền trước

2/ Hệ thống điện mặt trời hòa lưới tiết kiệm chi phí đầu tư

Nhờ quy mô nhỏ, lắp đặt phân tán nên ĐMTMN thường được đấu nối vào lưới điện hạ áp và trung áp hiện hữu, không cần đầu tư thêm hệ thống lưới điện truyền tải.

Vào thời gian cao điểm sử dụng điện, hoặc mùa nắng nóng, các hệ thống ĐMTMN phát điện tự cung cấp một phần, hoặc toàn phần nhu cầu phụ tải của hộ tiêu thụ, và có thể phát lên lưới điện giúp giảm quá tải các trạm biến áp, giảm khả năng sự cố điện.

Tùy thuộc quy mô lắp đặt mà hệ thống ĐMTMN có thể cung cấp hoàn toàn 100% lượng điện năng cho khách hàng (ban ngày phát dư lên lưới điện, ban đêm sử dụng ít hơn); hoặc làm giảm chỉ số tiêu thụ điện năng (khách hàng trả tiền mua điện mức giá thấp, bậc 1-2-3), không mất chi phí, hoặc giảm chi phí tiền mua điện giá cao (bậc 4-5-6). Phần điện dư thừa được các công ty điện lực mua lại với giá tương đương với 9,35 UScents/kWh (2134 VNĐ/kWh, theo giá năm 2019).

Dưới đây là bảng giá điện sinh hoạt theo 6 bậc, được ban hành tháng 3 năm 2019:

Biểu giá điện sinh hoạt tháng 3/2019.

Phần mái nhà được cách nhiệt bằng hệ thống tấm pin năng lượng mặt trời giúp giảm nóng cho ngôi nhà, khu sản xuất, văn phòng và giảm công suất tiêu thụ điện của máy lạnh. Hệ thống không sử dụng ắc quy do đó không phải tốn chi phí đầu tư, bảo trì, bảo dưỡng ắc quy. Đặc biệt, hệ thống này có tuổi thọ kéo dài trên 30 năm giúp mang lại hiệu quả lâu dài về mặt kinh tế và môi trường.

Bảng mô tả hiệu quả kinh tế pin năng lượng mặt trời áp mái:

Qui mô3
KW
5
kW
10
KW
20kWp50kWp80kWp100kWp150kWp200kWp
Điện năng/tháng480kWh810kWh1680kWh3115kWh7780kWh12450kWh15570kWh22360kWh31150kWh
Số tấm pin 345Wp9153058145232290435580
Diện tích m22036801403605606609901350
GiảmCO2/tháng235kg395kg795kg1595kg3975kg6360kg7955kg11925kg15900kg
Chi phí đầu tư VNĐ60 triệu100 triệu200 triệu400 triệu1 tỉ1,6 tỉ2 tỉ3 tỉ4 tỉ
Thời gian hoàn vốn6 năm6 năm6 năm6 năm6 năm6 năm6 năm6 năm6 năm

3/ Khảo sát và thỏa thuận đấu nối

Nguyên tắc thoả thuận đấu nối: Tổng công suất lắp đặt của các dự án ĐMTMN đấu nối vào lưới điện trung, hạ áp phải đảm bảo không được vượt quá công suất định mức của đường dây, MBA phân phối trung, hạ áp.

Sơ đồ ĐMTMN hòa lưới không dự trữ.

Trường hợp tổng công suất lắp đặt của các dự án ĐMTMN đấu nối vào lưới điện (kể cả dự án đang khảo sát) nhỏ hơn công suất định mức của đường dây, MBA phân phối hạ áp, thì các công ty điện lực, điện lực (CTĐL/ĐL) thống nhất với chủ đầu tư về công suất lắp đặt và phương án đấu nối như sau:

Trường hợp tổng công suất lắp đặt của các dự án ĐMTMN lớn hơn công suất định mức của đường dây, MBA phân phối hạ áp, CTĐL/ĐL có văn bản thông báo về khả năng quá tải của đường dây, MBA phân phối hạ áp và thỏa thuận chủ đầu tư giảm công suất lắp đặt của dự án, hoặc xây dựng đường dây, MBA nâng áp để được đấu nối vào lưới điện trung áp gần nhất.

Trường hợp lưới điện hiện hữu chưa đáp ứng về công suất đấu nối của dự án ĐMTMN, CTĐL/ĐL có văn bản thông báo cho chủ đầu tư về việc lưới điện không còn khả năng tiếp nhận công suất phát lên lưới điện của dự án.

4/ Một số kiến nghị, đề xuất

Mô hình ĐMTMN mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội:

Thứ nhất: Nhà nước giảm tiền đầu tư nhà máy điện, trạm biến áp, đường dây. Các công ty điện lực giảm quá tải và sự cố điện. Đối với vùng sâu vùng cao, hải đảo… ĐMTMN đem lại hiệu quả cao về mặt chính trị, xã hội.

Thứ hai: Hộ tiêu thụ điện giảm chi phí tiền, được bán điện cho công ty điện lực với giá cao hơn giá mua điện bậc 1-2-3.

Một số kiến nghị:

Thứ nhất: Chính phủ xem xét cơ chế hỗ trợ các hộ gia đình một phần kinh phí đầu tư; có cơ chế cho các nhà đầu tư thuê lắp đặt hệ thống ĐMTMN bán điện lại cho điện lực (ưu đãi vốn vay ngân hàng).

Thứ hai: Các bộ, ngành liên quan xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật điện mặt trời áp mái đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả cho khách hàng, cũng như hệ thống lưới điện.

THS. NGUYỄN HỮU KHOA – TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐIỆN LỰC TP. HCM

Rủi ro nào khi tiền “ồ ạt” đổ vào điện mặt trời

Một loạt dự án điện mặt trời của các ông chủ tư nhân đã và đang chạy đua để hoàn thành xây dựng và vận hành thương mại trước ngày 30/6 nhằm hưởng chính sách giá mua điện mặt trời 9,35 cents/Kwh.

Nói không với điện than

Cơ quan vận hành hệ thống điện lưới quốc gia Anh (ESO) ngày 8/5 cho biết lần đầu tiên kể từ năm 1882, nước này đã có thể phát điện trong một tuần liền mà không sử dụng than đá, trong bối cảnh Anh đang hướng đến việc giảm lượng khí thải carbon về mức 0. Ông Fintan Slye, Giám đốc ESO, cho biết việc phát điện không dùng than đá như thế này sẽ diễn ra thường xuyên khi ngày càng nhiều loại năng lượng tái tạo được đưa vào hệ thống năng lượng của nước Anh.

Tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ – ngân hàng thương mại lớn nhất Nhật Bản và lớn thứ 5 trên thế giới, được cho là đang xem xét lệnh cấm cho vay đối với các nhà máy nhiệt điện than mới. Mitsubishi UFJ vốn được biết đến là ngân hàng thương mại lớn nhất Nhật Bản và lớn thứ 5 trên thế giới, được cho là đang xem xét lệnh cấm cho vay để xây dựng các nhà máy nhiệt điện than mới.

Đầu năm nay, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Nhà nước Trung Quốc đã trở thành tổ chức tài chính đầu tiên của Trung Quốc tuyên bố dừng tham gia tài trợ điện than. Ngân hàng Oversea-Chinese Banking Corporation (OCBC) của Trung Quốc, ngân hàng lớn thứ hai Đông Nam Á, cho biết hai nhà máy nhiệt điện của Việt Nam là Nghi Sơn 2, Vân Phong 1 sẽ là những nhà máy nhiệt điện chạy than cuối cùng mà ngân hàng này tài trợ bởi sẽ tăng tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo.

Ngân hàng Hợp tác Quốc tế và Bảo hiểm Xuất khẩu Nippon Nhật Bản – cùng với một nhóm các ngân hàng thương mại bao gồm MUFG, Sumitomo Mitsui Bank Corp, Mizuho Bank và Sumitomo Mitsui Trust Bank, cũng như các ngân hàng Singapore OCBC và DBS – đã công bố quyết định tài trợ cho dự án Vân Phong 1 tỷ USD vào ngày 19/4/2019.

Theo đánh giá của giới chuyên gia, nếu có thể áp dụng các chính sách sử dụng năng lượng hiệu quả kết hợp phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam có thể cắt giảm khoảng 30.000 MW nhiệt điện than vào năm 2030, tương đương 25 nhà máy.

Ông chủ tư nhân

“Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành cường quốc về điện mặt trời trong thời gian rất ngắn”, ông Võ Quang Lâm, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khẳng định tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 5/2019. Lãnh đạo EVN cho biết, đến ngày 30/5 đã có 47 dự án điện mặt trời với công suất 2.300MW được đấu nối vào lưới điện quốc gia và dự kiến trong tháng 6 tiếp tục có thêm 49 dự án với công suất khoảng 2.600 MW. Như vậy, Việt Nam sẽ có gần 5.000MW trong một thời gian ngắn.

Cuộc chạy đua đầu tư dự án điện mặt trời bắt đầu tăng tốc kể từ tháng 4/2017, sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định 11/2017/QĐ-TTg đưa ra nhiều cơ chế ưu đãi về thuế và đất đai để khuyến khích phát triển điện mặt trời. Các dự án được cấp chứng nhận vận hành thương mại trước 30/6/2019 sẽ nhận ưu đãi về giá từ Chính phủ.

Theo cơ chế hiện tại, chỉ các dự án đưa vào vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019 mới được hưởng mức giá 9,35 UScent/kWh cho cả thời gian 20 năm, một mức giá được xem là khá hấp dẫn. Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, nhờ vào các chính sách ưu đãi, rất nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào điện mặt trời tại Việt Nam.

Dữ liệu do EVN công bố tháng 3 vừa rồi cho thấy đã có 141 dự án điện mặt trời được phê duyệt bổ sung quy hoạch, trong đó có 95 dự án với tổng công suất 6.127 MW đã ký xong hợp đồng mua bán điện. Trong đó, Ninh Thuận là tỉnh tập trung nhiều dự án điện mặt trời nhất với các nhà máy đã ký hợp đồng mua bán điện có tổng công suất 1.752 MW, tiếp đến là Bình Thuận 1.186 MW, Tây Ninh 708MW, Phú Yên 505MW và Khánh Hòa 220 MW.

Điện mặt trời đã và đang cho thấy động thái đầu tư mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân. Tại Ninh Thuận, khu vực được đánh giá là tốt nhất để phát triển điện mặt trời tại Việt Nam, Tập đoàn Trung Nam đã khánh thành giai đoạn I một tổ hợp năng lượng tái tạo gồm trang trại điện gió (tổng vốn đầu tư 4.000 tỷ đồng) và điện mặt trời (tổng vốn đầu tư 6.000 tỷ đồng). Trong đó, nhà máy điện mặt trời có công suất 204 MW, sản lượng điện tối đa khoảng 450 triệu kWh/ năm. Đây cũng là tổ hợp năng lượng mặt trời đầu tiên của Việt Nam được hòa lưới điện trong năm 2019.

Tập đoàn BIM Group cũng vừa khánh thành cụm nhà máy điện mặt trời và hòa lưới điện quốc gia với công suất 330 MWP tại Ninh Thuận. Cụm 3 nhà máy điện mặt trời được đầu tư hơn 7.000 tỷ đồng, lắp đặt hơn 1 triệu tấm pin năng lượng mặt trời, dự kiến sản xuất khoảng 600 triệu kWh/năm, phục vụ 200 nghìn hộ gia đình mỗi năm.

Tập đoàn Thành Thành Công, một trong những nhà phát triển các dự án điện mặt trời lớn nhất cả cả nước cũng đã đưa vào hoạt động 2 nhà máy tại Phong Điền, Thừa Thiên Huế (35MW) và Krong Pa (49MW). Tập đoàn này có kế hoạch phát triển 20 nhà máy điện mặt trời với quy mô vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD tại Tây Ninh, Bình Thuận, Ninh Thuận, Long An… Những tên tuổi đáng chú ý khác như Công ty Xuân Cầu, TTVN Group hay Bamboo Capital… cũng đang đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực điện mặt trời.

Tiền từ ngân hàng

Các doanh nghiệp tư nhân nhanh nhạy đã đầu tư điện mặt trời từ năm 2016-2017 để hưởng giá bán điện cao của EVN. Ngoài vốn tự có, các doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân hàng để tiến hành đầu tư. Cùng với cơn sốt điện mặt trời, cuộc chạy đua cung cấp tín dụng cho các dự án này giữa các ngân hàng cũng diễn ra mạnh mẽ.

Tháng 10/2018, Ngân hàng Phát triển TP.HCM (HD Bank) thông báo triển khai chương trình tài trợ dự án điện mặt trời kéo dài đến năm 2020 với quy mô khoảng 7.000 tỷ đồng. Ngân hàng cho biết sẽ ưu tiên các dự án trong quy hoạch phát triển điện mặt trời đã được phê duyệt bổ sung vào dự án điện quốc gia đến năm 2020. Đặc biệt, HDBank ưu tiên các dự án có khả năng đấu nối trước ngày 30/6/2019.

Trước đó, một số ngân hàng lớn đã trở thành nhà tài trợ vốn cho các dự án điện mặt trời như Vietinbank tài trợ 1.000 tỷ đồng cho dự án điện mặt trời TTC 01 tại Tây Ninh của Thành Thành Công. Dự án có quy mô 68,8 MW và tổng đầu tư 1.600 tỷ đồng. Vietcombank cũng ký hợp đồng tín dụng với công ty Đại Hải, chủ đầu tư dự án điện mặt trời Srêpok tại Đắk Lắk. Dự án này có tổng giá trị đầu tư khoảng 1.200 tỷ đồng.

Agribank cũng tham gia tài trợ cho các dự án điện mặt trời với việc cho vay 490 tỷ đồng tại dự án điện mặt trời Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Dự án có công suất 35MW, tổng đầu tư 838 tỷ đồng do Công ty Điện Gia Lai làm chủ đầu tư.

Khi vay, bên cho vay là ngân hàng thường yêu cầu có hợp đồng mua bán điện với EVN trong hồ sơ vay. Hợp đồng mua bán điện mặt trời giữa EVN và các chủ đầu tư dự án bao giờ cũng kèm theo phụ lục. Một trong những phụ lục đó là EVN có quyền từ chối mua tới 90% điện sản xuất ra nếu quá tải.

Điều 7, Chương II dự thảo Bộ Công thương đang lấy ý kiến để trình Chính phủ ban hành và áp dụng sau thời điểm tháng 6/2019 quy định bên mua có trách nhiệm mua toàn bộ điện năng được sản xuất từ các dự án điện mặt trời nối lưới trong điều kiện vận hành lưới điện cho phép. Điều này cũng không ngoại trừ khả năng EVN có thể từ chối mua điện với lý do vượt quá công suất truyền tải.