Chưa có giá điện mới, Doanh nghiệp chần chờ lắp điện mặt trời áp mái

Các chuyên gia nhận định nhiều doanh nghiệp Việt chưa hào hứng tham gia mô hình điện mặt trời áp mái vì suất đầu tư lớn trong khi chính sách giá mua điện mới vẫn chưa rõ ràng.

Ngày 16/9, Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) tổ chức lễ khánh thành hệ thống điện mặt trời áp mái công nghiệp thí điểm tại nhà máy Công ty Cát Tường ở Long An. Đây là một phần trong chuỗi chương trình Thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà tại Việt Nam do Bộ Công Thương phát động vào tháng 7 với sự hỗ trợ từ Chính phủ Đức.

Phát biểu tại buỗi lễ, Giám đốc Dự án Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ Ingmar Stelter nêu thực trạng nhiều dự án điện mặt trời hiện tập trung với mật độ dày đặc tại một số khu vực như Bình Thuận, Ninh Thuận gây ra hiện tượng quá tải công suất của lưới điện truyền tải. Ông Stelter cho rằng việc phát triển điện mặt trời áp mái là lời giải quan trọng cho bài toán sản xuất điện đáp ứng chính nhu cầu tại chỗ của người tiêu thụ.

Sau khoản viện trợ không hoàn lại 14,5 triệu euro (khoảng 375 tỷ đồng) để Bộ Công Thương thực hiện dự án hỗ trợ các hộ gia đình trên toàn quốc lắp điện mặt trời áp mái, phía Đức kỳ vọng dự án điện mặt trời áp mái thí điểm ở Long An sẽ thúc đẩy mục tiêu hỗ trợ phát triển điện mặt trời trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại tại Việt Nam.

Tuy nhiên, bà Nguyễn Hồng Giang, Giám đốc Tiếp thị của Công ty Tona Syntegra Solar, doanh nghiệp hợp tác với Công ty Cát Tường để phát triển dự án, cho biết chi phí đầu tư lớn hiện là nguyên nhân khiến điện mặt trời áp mái công nghiệp chưa thể phát triển nhanh như với hộ gia đình.

“Với các gia đình, suất đầu tư có thể không quá lớn. Nhưng đối với doanh nghiệp, đây là con số lớn. Chi phí đầu tư 1 MW điện mặt trời áp mái khoảng 800.000 USD. Một doanh nghiệp không có quá nhiều thông tin, không thật sự am hiểu lĩnh vực này sẽ thấy đây là khoản đầu tư rủi ro”, bà Giang nói.

Ông Nguyễn Quang Hưng, Giám đốc Công ty Cát Tường, cũng đánh giá nhiều doanh nghiệp vẫn cân nhắc giữa việc bỏ chi phí mua điện của EVN và đầu tư lớn cho điện mặt trời áp mái.

Bên cạnh đó, một vấn đề khác đến từ việc doanh nghiệp tự sở hữu hay đi thuê nhà xưởng vì trong trường hợp thuê lại, mái nhà không thuộc quyền sở hữu của họ.

Chịu suất đầu tư lớn, nhưng bà Giang khẳng định điện mặt trời áp mái ngoài ý nghĩa về môi trường còn đem lại hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp khi thời gian hoàn vốn kéo dài 5-6 năm với tỷ suất hoàn vốn 17-19%/năm. 

“Đây là con số chung tính toán trên sản lượng điện tạo ra, giá điện hiện tại của Việt Nam, hiệu suất giảm dần của hệ thống cộng với cả dự đoán về mức tăng giá điện hàng năm. Sau thời gian đó, hệ thống năng lượng mặt trời sẽ bắt đầu sinh lời. Kinh nghiệm thế giới cũng chứng minh sau 25 năm, hệ thống vẫn chạy tốt với 80% công suất. Nó sẽ hoạt động trên 30 năm chứ không chỉ 20-25 năm”, đại diện Tona Syntegra Solar cho hay.

Đánh giá tiềm năng thị trường điện mặt trời áp mái công nghiệp ở Việt Nam trị giá hàng tỷ USD, bà Giang chia sẻ nếu Bộ Công Thương sớm đưa ra giá mua điện mặt trời mới rõ ràng, mô hình này sẽ phát triển nhanh hơn nữa.

Đồng quan điểm, ông Hưng cho biết: “Rào cản lớn nhất hiện tại về chính sách là Bộ Công Thương và EVN chưa chốt giá mua điện mới sau ngày 30/6 (giá mua điện mặt trời trước 30/6 là 9,35 cents/kWh – PV). Chủ đầu tư có sẵn mái nhà và nguồn lực quan ngại nhất điều này”.

Advertisements

Điện mặt trời “mong chờ” giá mới

Tình hình đầu tư điện mặt trời, nhất là điện mặt trời áp mái, đang có chiều hướng “khựng” lại khi mức giá ưu đãi 9,5 cent/kWh đã hết hạn hơn 2 tháng, hiện vẫn chưa có bảng giá mua mới.

Chờ giá mới để đầu tư

Theo Quyết định 11/2017 của Thủ tướng Chính phủ, giá điện của các dự án điện mặt trời (ĐMT) được ngành điện mua lại theo ưu đãi là 9,35 cent/kWh từ ngày 1.6.2017 – 30.6.2019. Điều này cũng có nghĩa là từ ngày 1.7 đến nay, người dân, doanh nghiệp đầu tư ĐMT đều chưa biết mức giá điện sẽ được tính toán ra sao; trong khi những người muốn đầu tư mới hay mở rộng cũng chần chừ chờ giá mới được đưa ra. Ông Nguyễn Hữu Anh, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc HTX công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu, cho biết ông và các thành viên HTX dự định đầu tư hơn 2 tỉ đồng làm hệ thống ĐMT phục vụ nuôi tôm và bán lại sản lượng điện dư cho ngành điện, nhưng hiện dự định này vẫn đang trong giai đoạn chờ. “Theo tìm hiểu của chúng tôi, mức giá 0,95cent/kWh có thể sẽ giảm, khi đó những tính toán sẽ lại khác đi. Hiện chúng tôi vẫn ngóng từng ngày mức giá mới để đưa ra quyết định cuối cùng”, ông Anh nói.

Tương tự, tại TP.Cần Thơ, hiện có hàng trăm doanh nghiệp, hộ gia đình đã và đang có ý định lắp đặt ĐMT áp mái cũng đang băn khoăn về khung giá bán điện dư cho ngành điện. Ông Nguyễn Văn Toàn, đại diện Công ty TNHH Kỹ thuật DTE (TP.Cần Thơ), cho biết với những lợi ích từ việc lắp ĐMT trời áp mái nên rất muốn đầu tư, nhưng việc lắp đặt từ 3 – 5 kWp thì gần như chỉ phục vụ đủ cho nhu cầu hộ gia đình, còn nếu muốn kinh doanh thì việc lắp đặt phải là quy mô lớn hơn. “Điều tôi còn suy nghĩ về chính sách mua bán điện giữa khách hàng và công ty điện lực có ổn định lâu dài, bởi theo tính toán, mất khoảng 5 năm mới hoàn vốn thiết bị”, ông Toàn cho biết.

17 tỉ đồng mua ĐMT

Ông Dương Quốc Phong (ngụ P.Long Tuyền, Q.Bình Thủy, TP.Cần Thơ) thông tin, sau khi được tư vấn lắp đặt ĐMT áp mái, ông thấy hợp lý và dự tính lắp đặt 3 kWp, sản lượng điện tạo ra dự kiến khoảng từ 400 – 450 kWh. “Nếu tính theo giá điện cũ, trừ số điện năng tiêu thụ của gia đình, hằng tháng sẽ dư khoảng 700.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay Chính phủ vẫn chưa ban hành giá ĐMT mới nên không biết có nên đầu tư để lắp đặt thiết bị vào thời điểm này”, ông Phong nói. Là một trong những hộ đầu tư ĐMT sau ngày 30.6, ông Lê Quốc Nam (ngụ KDC 586, P.Phú Thứ, Q.Cái Răng, TP.Cần Thơ) có lý do để lo lắng: “Bỏ ra 120 triệu đồng để đầu tư dung lượng 5,5 kWp, sau hơn 2 tháng hoàn thiện, phát bán điện cho ngành điện nhưng tới nay tôi vẫn chưa biết mình sẽ được bao nhiêu. Hy vọng giá ĐMT áp mái mới sẽ tính bằng hoặc hơn giá cũ để người dân yên tâm và tiếp tục ủng hộ chủ trương phát triển điện năng lượng mặt trời”. Hiện chưa có giá điện mới nên số điện của hộ ông Nam vẫn đang được Công ty Điện lực TP.Cần Thơ ghi nhận, chờ khi có giá điện mới sẽ thanh toán sau.Ông Nguyễn Văn Lý, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC), cho biết đến cuối tháng 8.2019, tại 21 tỉnh thành miền Nam, tổng công suất năng lượng mặt trời áp mái khách hàng đã lắp đặt là 121.272 kWp, đạt 127% so với kế hoạch EVN giao. Hiện có 5.982 khách hàng lắp đặt công tơ 2 chiều bán điện dư từ hệ thống ĐMT áp mái phát vào hệ thống điện chung. Tính đến ngày 30.8.2019, EVN SPC đã thanh toán tiền EVN SPC cho 2.948 khách hàng với sản lượng 7.620.128 kWh, số tiền 17,15 tỉ đồng. Mặc dù lượng khách hàng đăng ký lắp đặt ĐMT áp mái vẫn tăng, nhưng hầu hết người đầu tư đều đang mong mỏi mức giá mới cho ĐMT sớm được ban hành.

Điện mặt trời : giải pháp hữu hiệu giải quyết nguy cơ thiếu điện ở Việt Nam

Khi nguồn thuỷ điện đã hết, điện than cần hạn chế thì nguồn điện khí và năng lượng tái tạo cần phải xem xét để đáp ứng nhu cầu.

Nhìn lại tình hình sản xuất và cung ứng điện trong 8 tháng qua có thể thấy, lượng điện thương phẩm đã tăng trưởng gần 10% so cùng kỳ 2018.

Bộ Công Thương dự kiến, việc cung cấp điện năm 2020 về cơ bản đáp ứng được nhưng tiếp tục tiềm ẩn một số rủi ro, có thể đối mặt với nguy cơ thiếu điện trong các tình huống cực đoan khi nhu cầu phụ tải cao hơn dự báo, lưu lượng nước về các hồ thủy điện kém, thiếu hụt nguồn nhiên liệu than, khí cho sản xuất điện…

Chưa nhìn thấy nguồn điện mới khả thi

Báo cáo của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cũng cho thấy, do nhiều dự án nguồn điện lớn bị chậm tiến độ so với quy hoạch, đặc biệt các nguồn điện BOT, các dự án nhiệt điện than… nên hệ thống sẽ thiếu điện trong cả giai đoạn 2021-2025 (mặc dù đã phải huy động tối đa các nguồn điện, kể cả các nguồn điện chạy dầu).

Trong khi đó, ước tính sản lượng điện thiếu hụt năm 2021 khoảng 6,6 tỷ kWh, đến năm 2022 tăng lên khoảng 11,8 tỷ kWh, năm 2023 có thể lên đến 15 tỷ kWh (tương ứng xấp xỉ 5% nhu cầu).

Về phát triển năng lượng tái tạo, theo ông Phương Hoàng Kim, Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, tổng công suất điện mặt trời (ĐMT) theo đề xuất của các nhà đầu tư đã lên đến khoảng 25.000 MW, các dự án điện gió với tổng công suất khoảng 16.500 MW. Tính đến hết tháng 6, đã có tổng số 89 nhà máy ĐMT đưa vào vận hành với tổng công suất gần 4.500 MW.

“Đây là nguồn điện đã bổ sung kịp thời cho hệ thống điện quốc gia, góp phần đảm bảo cung cấp điện trong 6 tháng đầu năm 2019. Tuy nhiên, với hiện trạng cơ sở hạ tầng hiện có, trong một số thời điểm, lưới điện 500-220-110kV thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Đăk Nông, Đăk Lăk bị quá tải, ảnh hưởng đến việc vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định”, ông Kim thông tin.

Là đơn vị được Chính phủ giao cung cấp điện, điều mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lo lắng nhất chính là đảm bảo đủ nguồn. Ông Võ Quang Lâm, Phó Tổng giám đốc EVN cho biết, hiện tại, tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống điện là 48.000 MW song mức độ khả dụng chỉ là 39.000 MW.

“Với tốc độ tăng trưởng sử dụng điện trên 10%/năm, nghĩa là năm 2020 phải có thêm khoảng 4.000 MW nữa, tương đương cần 43.000 MW, không biết lấy đâu để sẵn sàng”, ông Lâm nêu khó khăn.

Xung quanh câu chuyện nguồn điện của Việt Nam, ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng, từ nay tới năm 2021, Việt Nam chưa nhìn thấy nguồn điện nào mới khả thi.

 Chính vì thế, Việt Nam cần nghiên cứu chi tiết và buộc phải đa dạng hoá nguồn điện, nhất là khi nguồn thuỷ điện đã hết, điện than cần hạn chế; điện gió, điện mặt trời tốt nhưng còn tác động mạnh về giá điện. Và trong bối cảnh hiện tại, nếu không phát triển điện hạt nhân thì nên xem xét thêm nguồn về điện khí.

Nguồn nào cũng có cái khó riêng

Phát triển bùng nổ thời gian qua, song điện mặt trời thực tế lại chỉ đáp ứng được lượng điện khá khiêm tốn trong tổng nhu cầu. Theo quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất điện mặt trời mới đạt 850 MW nhưng thực tế hiện nay đã đạt 4.500 MW và sang năm, con số này dự kiến sẽ lên tới 7.700 MW. Con số thực đi xa hơn khá nhiều so với con số quy hoạch.

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cho biết, sau khi có các cơ chế về giá ưu đãi đối với điện mặt trời, điện gió, các dự án điện năng lượng tái tạo này phát triển quá nhanh. Để đầu tư 1 dự án điện mặt trời với công suất 50-100MW chỉ mất khoảng 6 tháng, nhưng việc đầu tư lưới điện truyền tải với đường dây 500kV phải mất 3 năm, đường dây 220kV mất 2 năm. Do vậy, việc phát triển lưới điện truyền tải không theo kịp tiến độ đầu tư các dự án điện mặt trời.

Theo ông Võ Quang Lâm, đến tận năm 2025, dự báo tăng trưởng nhu cầu sử dụng điện vẫn là trên 10%/năm. Để đáp ứng nhu cầu về điện, cơ cấu các nguồn điện truyền thống cần được quan tâm đúng mức, nghiêm túc. Hiện nay, năng lượng truyền thống hiện chỉ còn nhiệt điện than và nhiệt điện khí có thể nhìn tới.

Dù vậy, ông Lâm cũng bày tỏ lo ngại bởi việc khai thác than của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc hiện nay khá khó khăn, công suất không lên được trong khi giá lại tăng lên, dẫn tới phải nhập khẩu than, khí.

“Nhập khẩu khí dạng hoá lỏng bằng tàu lại cần có cảng nước sâu nên phát sinh rất nhiều khó khăn, nên phải trông chờ vào đầu tư lớn, dài hạn thì chủ mỏ khí mới quyết định mở mỏ bởi mỏ khí cần đầu tư 5-7, thậm chí 10 năm mới có khí. Do vậy, cần phải tính toán quy hoạch sớm, chỗ nào làm được nhà máy khí, chỗ nào làm nhiệt điện than”, ông Lâm nói.

Theo chuyên gia năng lượng Nguyễn Văn Vy, Phó Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam (VEA), mặc dù các nguồn năng lượng trong đó có điện từ nay đến năm 2020 không đáng lo ngại, nhưng giai đoạn sau năm 2020, với hàng loạt các công trình, dự án đang chậm tiến độ cho thấy nguy cơ thiếu điện khá rõ ràng đòi hỏi các cơ quan quản lý cần tính toán lại.

“Điện mặt trời có thể xây dựng rất nhanh, nếu có cơ chế đặc biệt và phê duyệt nhanh thì từ lúc lập tự án cho đến khi đưa vào vận hành chỉ trong vòng 1 năm. Cho nên khi tính toán, nếu thấy có khả năng thiếu điện tổng thể hay vùng nào thiếu điện, ngành điện có thể tập trung các dự án năng lượng tái tạo tại khu vực đó để đảm bảo cung cấp điện”, ông Vy nêu quan điểm.

Điện mặt trời cho ngày khai trường

Đúng ngày khai giảng 5.9, tại Trường phổ thông dân tộc nội trú H.Lệ Thủy (Quảng Bình), Tổng công ty điện lực miền Trung (EVNCPC) và Báo Thanh Niên tổ chức lễ khánh thành trao tặng hệ thống điện mặt trời trên mái nhà cho trường.  

Trường phổ thông dân tộc nội trú H.Lệ Thủy là nơi nuôi dạy 226 học sinh con em đồng bào dân tộc ít người sinh sống ở 3 xã Kim Thủy, Lâm Thủy, Ngân Thủy của H.Lệ Thủy. Đây là các xã nghèo, người dân sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm hơn 50%. Các em ăn, ở tại trường 24/24, vì vậy ngoài việc dạy học kiến thức thì chuyện đảm bảo điều kiện sinh hoạt cũng rất quan trọng và luôn được quan tâm.Tuy nhiên, dù cố gắng duy trì nhưng điều kiện ngân sách hạn hẹp và địa bàn cách trở khiến nhà trường gặp nhiều khó khăn. Hằng năm, giáo viên nhà trường đều tận dụng các nguồn lực để đảm bảo phần nào nhu cầu của học sinh. Trước hoàn cảnh khó khăn đó, thông qua Báo Thanh Niên, EVNCPC đã quyết định tài trợ thực hiện công trình điện mặt trời trên mái nhà cho nhà trường.

Hệ thống điện mặt trời hiện đại tại trường
 /// Ảnh: T.Q.N

Sau một thời gian lắp đặt khẩn trương, công trình hoàn thành và bàn giao đúng tiến độ như mong ước của những người thực hiện và nhất là tập thể giáo viên, học sinh của trường. Công trình có công suất trên 11,1 kWp, tạo ra sản lượng điện bình quân hơn 40 kWh/ngày.Phát biểu tại lễ bàn giao, ông Nguyễn Thành, Phó tổng giám đốc EVNCPC, cho biết: “Trong những năm qua, chúng tôi đã nghiên cứu sản xuất hệ thống pin mặt trời nối mái và các sản phẩm công nghệ đo đếm, trong đó có một phần nhiệm vụ vô cùng ý nghĩa là tài trợ hệ thống năng lượng mặt trời áp mái cho các điểm trường những vùng khó khăn. Thông qua chương trình tài trợ hệ thống điện mặt trời cho các điểm trường lần này, bên cạnh trách nhiệm chung tay hỗ trợ cộng đồng, EVNCPC mong muốn tuyên truyền giáo dục một cách trực quan nhằm nâng cao nhận thức cho các thế hệ tương lai của đất nước ngay từ môi trường học đường về ý thức sử dụng điện tiết kiệm, tăng cường sử dụng năng lượng sạch, tái tạo vào đời sống”.

Khó có thể nói hết niềm vui của giáo viên nhà trường khi nhận được công trình ý nghĩa này. Thầy Lê Văn Bình, Hiệu trưởng nhà trường, chia sẻ tại buổi lễ: “Trường vinh dự đón nhận một tấm lòng vàng, một tình cảm đặc biệt của EVNCPC và Báo Thanh Niên. Nguồn điện từ dự án này rất cần thiết và là nguồn tiết kiệm ngân sách cho đơn vị khá lớn, đồng thời góp phần sử dụng nguồn năng lượng sạch bảo vệ môi trường”.Với những phần quà học bổng, thầy Bình cho hay không chỉ giúp các em học sinh giảm bớt khó khăn, an tâm học tập mà còn tạo ra không khí học tập sôi nổi trong toàn trường; khơi dậy nơi các em lòng yêu thương con người, bạn bè và nhân rộng hơn nữa những tấm gương tiêu biểu vượt khó vươn lên.

Niềm vui có điện mặt trời - ảnh 1

Dịp này, Báo Thanh Niên cũng trao tặng 20 suất học bổng Nguyễn Thái Bình cho các học sinh tại trường có hoàn cảnh khó khăn, vươn lên trong học tập; mỗi suất trị giá 1 triệu đồng, do Trường đại học Nguyễn Tất Thành (TP.HCM) tài trợ.

Phát triển điện mặt trời bùng nổ ở Việt Nam là bài học cho các nước khu vực ASEAN

Với sự quan tâm từ chính phủ và cơ quan quản lí, điện mặt trời đang bùng nổ mạnh mẽ ở Việt Nam với tổng công suất 4,5 GW (tính đến tháng 6/2019), Indonesia có thể rút ra một số bài học từ thành công của Việt Nam khi kế hoạch phát triển điện mặt trời của nước này đang bị đình trệ.


Kế hoạch phát triển điện mặt trời của Indonesia đối mặt với nhiều trở ngại

Trong sự kiện Jakarta Car Free Day (ngày không khói xe) tổ chức hôm 28/7, Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia Ignasius Jonan đã mở một chiến dịch mang tên Phong trào Quốc gia Một triệu Mái nhà Điện mặt trời nhằm đẩy mạnh việc tận dụng năng lượng mặt trời ở nước này.

Chiến dịch nói trên là một nỗ lực nhằm tăng cường hoạt động lắp đặt tấm pin mặt trời như đã ghi trong Kế hoạch Năng lượng Quốc gia Indonesia (RUEN).

Theo The Asean Post, RUEN là kế hoạch nhắm lắp đặt tấm pin mặt trời với tổng công suất 6,5 GW vào năm 2025 và 45 GW vào năm 2050.

Tuy nhiên, vốn là một quốc gia tập hợp nhiều đảo và quần đảo nhỏ, việc lắp đặt tấm pin mặt trời ở Indonesia dường như đang đình trệ trong những năm gần đây, khi mà mới chỉ có 0,1 GW năng lượng điện mặt trời được lắp đặt cho đến nay.

Thực tế này đồng nghĩa rằng Indonesia cần nỗ lực nhiều hơn để bổ sung thêm 6,4 GW năng lượng điện mặt trời trong chỉ trong 6 năm nữa để hoàn thành mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch RUEN. 

Điều này khiến các chuyên gia đang đặt dấu hỏi về khả năng thành công của Indonesia.

Việc lắp đặt pin mặt trời ở Indonesia cũng đang tụt lại phía sau các quốc gia láng giềng khác.

Việt Nam nổi lên như một “tay chơi” đáng nể trong lĩnh vực điện mặt trời

Dựa trên dữ liệu từ Trung tâm Năng lượng ASEAN (ACE), tính đến tháng 6/2019, hoạt động lắp đặt năng lượng mặt trời trên toàn khu vực ASEAN đã đạt công suất khoảng 9,1 GW, tăng đáng kể từ mức 0,03 GW năm 2010.

Mức tăng trưởng trên là nhờ sự bùng nổ năng lượng điện mặt trời tại Thái Lan (3 GW), Malaysia (0,7 GW), Philippines (0,8 GW) và gần đây là Việt Nam (4,5 GW), với chính phủ các nước này đưa ra nhiều chương trình khuyến khích năng lượng tái tạo.

Năng lượng điện mặt trời đang bùng nổ mạnh mẽ ở Việt Nam với tổng công suất 4,5 GW tính đến tháng 6/2019, chỉ hai năm sau khi hệ thống Feed-in Tariff (FiT) ra mắt. FiT là một chương trình trợ giá điện mặt trời.

Từ đó, Việt Nam trở thành nước lắp đặt năng lượng điện mặt trời lớn nhất trong khối ASEAN và đẩy “gã tiên phong” Thái Lan xuống hàng thứ hai.

Indonesia có thể học hỏi kinh nghiệm từ thành công của Việt Nam. 

Cả hai nước giàu dự trữ than đá và vẫn chủ yếu sử dụng nguyên liệu này trong tổ hợp năng lượng quốc gia. Đồng thời, Indonesia và Việt Nam vẫn là các nước đang phát triển, có nhu cầu năng lượng cao để tạo đà cho tăng trưởng kinh tế.

1

Tiến trình lắp đặt tấm pin mặt trời tại khu vực ASEAN, giai đoạn 2010 – 2019. (Ảnh: The Asean Post)

Hơn nữa, hai nước còn có cấu trúc thị trường điện tương tự nhau, với mô hình một người mua duy nhất do nhà nước sở hữu, cụ thể là Công ty Điện lực Nhà nước (PLN) ở Indonesia và Điện lực Việt Nam (EVN) tại Việt Nam.

Indonesia có thể áp dụng thành công của Việt Nam như một tài liệu tham khảo, với 4 điểm chính sau:

Hỗ trợ tài chính, giảm giá điện mặt trời

Năm 2017, Việt Nam đã bắt đầu chương trình hỗ trợ cho năng lượng điện mặt trời với mức giá 0,0935 USD/kWh trong giai đoạn đầu đối với các nhà máy vận hành trước tháng 6/2019.

Mức giá này được thiết lập cao hơn giá bán lẻ điện trung bình (0,0803 USD/kWh), vì vậy góp phần khuyến khích các nhà phát triển năng lượng tái tạo bước chân vào lĩnh vực mới mẻ này và thu hút vốn đầu tư.

Tại Indonesia, việc định giá năng lượng tái tạo, gồm cả năng lượng mặt trời, bị hạn chế bởi biểu giá điện bán lẻ tối đa địa phương, hiện vào khoảng 0,07 USD/kWh cho những khu vực có nhu cầu điện cao như Java.

Điều này không tạo động lực cho ngành điện mặt trời khi mà giá điện mặt trời trong nước tương đương chi phí sản xuất điện từ than đá hoặc các nhiên liệu hóa thạch khác.

Bên cạnh giá bán lẻ cạnh tranh, hỗ trợ từ lĩnh vực tài chính cũng đóng vai trò quan trọng. 

Ở Việt Nam, các ngân hàng và lĩnh vực tài chính rất quan tâm đến các dự án điện mặt trời nên họ sẵn sàng cung cấp khoản vay cho các nhà phát triển điện mặt trời khi mà các dự án này có thể được ngân hàng nhận trả (bankable).

Ngành công nghiệp điện mặt trời hoàn thiện

Có được một ngành công nghiệp điện mặt trời chín muồi để hỗ trợ nhu cầu năng lượng là rất cần thiết. Khi hệ thống FiT ra mắt, Việt Nam đã sở hữu một ngành công nghiệp sản xuất điện mặt trời trời tương đối hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu lớn trong nước.

Năm 2016, Việt Nam là nhà sản xuất điện mặt trời lớn thứ ba châu Á với tổng công suất 5,2 GW/năm, chỉ đứng sau Ấn Độ và Trung Quốc.

Trước khi FiT có hiệu lực, sản lượng module điện mặt trời được tạo ra chủ yếu là dùng cho xuất khẩu, nhưng với năng lực sản xuất của Việt Nam vào thời điểm đó, thị trường nội địa đã sẵn sàng cho sự ra mắt của hệ thống FiT.

Bằng cách này, các nhà phát triển có thể sử dụng module điện mặt trời nội địa thay vì nhập khẩu vì mang lại nhiều lợi ích kinh tế.

Theo Hiệp hội Sản xuất Pin Năng lượng Mặt trời Indonesia, sản lượng pin năng lượng mặt trời của nước này chỉ đạt công suất 416 MW/năm trong năm.

Do đó, giá mỗi module năng lượng mặt trời nội địa sẽ đắt hơn nhiều so với nhập khẩu. Trong khi đó, Indonesia qui định các dự án năng lượng tái tạo phải sử dụng tối thiểu 40% các sản phẩm địa phương.

EVN tích cực ủng hộ đưa điện mặt trời vào hệ thống tải điện tại Việt Nam

EVN mở cửa chào đón điện mặt trời và năng lượng tái tạo trong hệ thống tải điện, đồng thời họ cũng đang cải thiện khả năng để thích nghi với các công nghệ mới này.

Ngoài ra, hoạt động đầu tư nhằm tăng tính linh hoạt và năng lực truyền tải của mạng lưới điện là yêu cầu cần có để đảm bảo EVN có thể xử lí tốt tình trạng gián đoạn của năng lượng mặt trời.

EVN xem sự gián đoạn nói trên như một thách thức cần giải quyết hơn là một mối đe dọa, theo đó giúp thúc đẩy cải thiện năng lực truyền phát điện hơn nữa. 

Công ty điện lực cũng nhận thấy nguồn cung năng lượng tái tạo dồi dào hơn sẽ giảm các tác động của tình trạng gián đoạn khi mà các dự án có thể bù đắp cho nhau trong một hệ thống lớn.

Chính phủ Việt Nam nỗ lực đơn giản hóa qui trình cấp phép dự án điện mặt trời

Cuối cùng, đơn giản hóa quy trình cấp phép và hỗ trợ từ chính quyền địa phương cho các dự án điện mặt trời cũng là điều kiện quan trọng để bảo đảm cho quá trình triển khai điện mặt trời nhanh chóng.

Tại Việt Nam, các nhà chức trách địa phương ở những vùng có tiềm năng điện mặt trời cao đã xây dựng bản đồ qui hoạch điện mặt trời, trong đó xác định những địa điểm có thể cho phép xây dựng điện mặt trời để các nhà phát triển nộp đơn đề xuất dự án.

Các nhà phát triển điện mặt trời không còn phải chịu qui trình xin cấp phép dong dài và ở một số khu vực, chính quyền địa phương thậm chí còn đưa ra nhiều khuyến khích khác bên cạnh chính sách quốc gia, chẳng hạn như ưu đãi về vấn đề cho thuê đất. 

Việc này rút ngắn thời gian thủ tục và tăng thời gian dành cho việc xây dựng.

Theo The Asean Post, bằng cách áp dụng 4 bài học này từ Việt Nam, Indonesia có thể dễ dàng hoàn thành mục tiêu đề ra trong 6 năm.


Điện mặt trời áp mái : Giải pháp khả thi bù đắp thiếu hụt điện năng

Phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời áp mái (ĐMTAM) đang được Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đặc biệt quan tâm với mục tiêu bù đắp nguồn năng lượng thiếu hụt. Tại Hội thảo “Khởi động chương trình thúc đẩy phát triển ĐMTAM tại Việt Nam” do Bộ Công Thương chủ trì tổ chức tại TP HCM vừa qua, phóng viên Báo Năng lượng Mới có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Dũng – Trưởng ban Kinh doanh EVN – xung quanh vấn đề này.  

PV: Ông có thể cho biết về tình hình cung ứng và tiêu thụ điện của nước ta trong năm 2019 và những năm tiếp theo?

giai phap kha thi bu dap dien thieu hut

Ông Nguyễn Quốc Dũng: Trong năm 2019, theo quy hoạch, tổng nguồn cung năng lượng điện là 52.600 MW. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, nguồn cung mới đạt 48.800 MW, thiếu hụt khoảng 3.000 MW. Đến năm 2025, nguồn cung điện theo quy hoạch phải đạt 89.000 MW, đến năm 2030 đạt 110.000 MW.

Tổng nhu cầu điện của cả nước giai đoạn 2019-2030 sẽ tiếp tục tăng cao. Dự kiến trong năm 2019, công suất phụ tải là 38.147 MW, năm 2025 tăng lên 63.400 MW và đến 2030 lên tới 90.000 MW.

Chúng ta đang mất cân đối cung – cầu điện. Trong đó, những năm 2019-2020 là giai đoạn đặc biệt khó khăn đối với ngành điện. Chúng ta đã huy động hết toàn bộ các nguồn nhiệt điện và đã phát điện chạy dầu (rất đắt) nhưng cũng không đủ đáp ứng nhu cầu. Theo kế hoạch, EVN dự kiến phát điện dầu khoảng 1,7 tỉ kWh trong năm 2019, chúng ta đã sử dụng đến hơn 700 triệu kWh từ điện chạy dầu giá cao để đủ điện cho sản xuất, sinh hoạt. Dự kiến của EVN là từ nay đến cuối năm 2019 phải tăng điện chạy dầu thêm 1,8 tỉ kWh nữa.

Trong giai đoạn 2021-2025, khả năng nước ta tiếp tục mất cân đối về cung – cầu điện và thiếu hụt khoảng 3,7 tỉ kWh vào năm 2021, tới 10 tỉ kWh vào năm 2022 và đến năm 2023 thiếu hụt khoảng 12 tỉ kWh.

PV: Nguyên nhân nào khiến mất cân đối lớn về cung – cầu điện, thưa ông?

Ông Nguyễn Quốc Dũng: Nguyên nhân chính là hiện tại rất nhiều dự án điện độc lập (IPP) không đáp ứng tiến độ, không theo quy hoạch. Hiện tại, chúng ta có khoảng 7-8 nhà máy chậm tiến độ với lượng công suất thiếu hụt khoảng 2.200 MW.

Bên cạnh đó là khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nhiên liệu cho phát điện.

Tình trạng thiếu điện một mặt do thiếu nguồn, công suất, sản lượng, một mặt chúng ta không truyền tải được nguồn năng lượng tái tạo ở miền Trung. Đây là một trong những nguyên nhân rất là đáng tiếc. Chúng ta đã phát triển được năng lượng tái tạo ở mức độ rất cao trong thời gian qua, nhưng năng lượng tái tạo tập trung rất nhiều ở khu vực miền Trung mà ở đây lưới điện truyền tải phát triển chưa theo kịp tốc độ phát triển của điện mặt trời, gây quá tải lưới điện. EVN đang cùng Bộ Công Thương, UBND các tỉnh tập trung giải quyết các vấn đề về truyền tải điện ở khu vực miền Trung.

PV: Trước những khó khăn đó, EVN đã có giải pháp gì để bù đắp lượng điện thiếu hụt?

Ông Nguyễn Quốc Dũng: Có nhiều giải pháp đồng bộ được triển khai, trong đó có phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là ĐMTAM đang được Chính phủ, Bộ Công Thương và EVN đặc biệt quan tâm. Chúng tôi đã xây dựng các chương trình, mục tiêu để phát triển một cách nhanh nhất ĐMTAM tại Việt Nam nhằm bù đắp lại nguồn năng lượng đang thiếu hụt và có thể thiếu hụt trong tương lai.

Tiềm năng điện mặt trời của chúng ta rất lớn. Theo thống kê ở 3 miền Bắc – Trung – Nam cho thấy khu vực có tiềm năng lớn nhất là tại miền Nam, tất cả 15 tỉnh được thống kê với bức xạ rất tốt, có tiềm năng phát triển tới 9.737 MWp. Khu vực thứ hai là miền Trung, 11 tỉnh được thống kê với tiềm năng phát triển là 3.202 MWp. Tại khu vực miền Bắc, thống kê ở 3 tỉnh Thanh Hóa, Sơn La, Hà Tĩnh, tiềm năng phát triển là 353 MWp. Như vậy, tổng tiềm năng điện mặt trời có thể phát triển trên toàn quốc là 13.293 MWp.

PV: Ông có thể cho biết, hiện nay có những chương trình nào thúc đẩy phát triển ĐMTAM ở nước ta?

Ông Nguyễn Quốc Dũng: ĐMTAM được khuyến khích phát triển ở tất cả mọi nơi, ưu tiên ở những khu vực khả thi về mặt đấu nối và gần phụ tải. EVN tiếp tục hỗ trợ, khuyến khích tất cả các khách hàng sử dụng điện (điện sinh hoạt, điện công nghiệp, thương mại dịch vụ) đầu tư vào phát triển ĐMTAM, đặc biệt tại những khu vực có nhiều tiềm năng như miền Trung, miền Nam. EVN cũng khuyến khích các hộ lắp ĐMTAM đầu tư các hệ thống tích trữ năng lượng để nâng cao hiệu quả phát điện cho các dự án cũng như tăng độ ổn định cho lưới điện.

Bên cạnh chỉ đạo các trụ sở doanh nghiệp thuộc EVN tiên phong lắp đặt và khuyến khích CBCNV thuộc EVN lắp ĐMTAM, EVN cũng tăng cường quảng bá, tuyên truyền tới các khách hàng cơ quan, công sở của Nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình về ĐMTAM. Bộ Công Thương đã chỉ đạo EVN triển khai “Chương trình phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam” (GET FiT) với mục tiêu hỗ trợ khoảng 50.000-70.000 khách hàng lắp đặt ĐMTAM nối lưới, công suất lắp đặt dự kiến 130-150MWp, dành cho đối tượng hộ gia đình trên phạm vi toàn quốc. Mức hỗ trợ (dự kiến) là 3 triệu đồng/kWp và không quá 6-10 triệu đồng/hộ. Chương trình diễn ra từ năm 2019-2021, được thực hiện bằng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại 14,5 triệu eur của Chính phủ Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW).

PV: Khi hộ gia đình lắp đặt ĐMTAM thì quy trình đấu nối, bán điện cho EVN như thế nào, có phức tạp không?

Ông Nguyễn Quốc Dũng: Ngay từ đầu, EVN đã xác định phải làm sao thật công khai, minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi nhất với khách hàng lắp đặt ĐMTAM, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời và an toàn vận hành. Theo quy định, hệ thống ĐMTAM dưới 3 kWp sẽ được đấu nối vào hệ thống điện 1 pha và trên 3 kWp sẽ đấu vào hệ thống điện 3 pha. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ đề xuất với Bộ Công Thương, trong trường hợp các hệ thống trên 3 kWp lắp đặt ở khu vực không có lưới điện 3 pha, nhưng lưới điện 1 pha vẫn đáp ứng yêu cầu kỹ thuật thì vẫn cho phép đấu nối vào lưới điện 1 pha. EVN cũng có kế hoạch nâng cấp hệ thống điện để đáp ứng nhu cầu nối lưới của ĐMTAM.

Hồ sơ đăng ký mua bán điện rất đơn giản, 3 ngày trước ngày hoàn thành, khách hàng gửi giấy đề nghị bán điện đến các doanh nghiệp điện lực địa phương. Hiện nay tất cả các hồ sơ đã được EVN thống nhất và công khai trên trang web của EVN. Ngoài ra, khách hàng cần gửi cho các doanh nghiệp điện lực hồ sơ kỹ thuật. Chúng tôi lưu ý là phải có hồ sơ kỹ thuật vì cần đánh giá chất lượng của các tấm pin, inverter, đánh giá về nhà sản xuất trong tương lai, cũng như về nhà lắp đặt, nhằm đưa ra các khuyến nghị với người tiêu dùng liên quan đến vấn đề kỹ thuật.

Sau khi ký kết hợp đồng mua bán điện, việc ghi chỉ số sẽ được thực hiện 1 tháng 1 lần. Hằng tháng, chúng tôi sẽ thu thập số lượng một cách tự động và thông báo đến khách hàng. Về thanh toán, chúng tôi sẽ chuyển khoản cho chủ đầu tư. Việc thanh toán rất dễ dàng sau khi có chỉ số, qua chuyển khoản ngân hàng.

PV: Xin cảm ơn ông!

Lo thiếu điện, đề nghị quy hoạch thêm 6GW điện mặt trời và 12GW điện gió

Để tính toán cân đối cung cầu điện giai đoạn đến 2025, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) đã đưa ra các giả thiết về: công suất điện gió – điện mặt trời, lượng điện nhập khẩu từ Lào, giới hạn truền tải liên kết Bắc – Trung – Nam và tiến độ các dự án nguồn điện.

Cụ thể, về công suất điện gió, Viện Năng lượng dự kiến năm 2019, công suất điện gió là 490 MW, năm 2020 là 1.010 MW, năm 2021 là 2.730 MW, năm 2022 là 3.630 MW, năm 2023 – 2025 là 4.830 MW.

Công suất điện mặt trời dự kiến năm 2019 là 4.790 MW, năm 2020 là 6.670 MW, năm 2021 là 8.050 MW, năm 2023 là 9.250 MW, năm 2024 là 10.000 MW và năm 2025 là 10.500 MW.

Từ năm 2022, Viện Năng lượng dự kiến Việt Nam sẽ mua điện từ các nhà máy điện của Lào (ngoài Quy hoạch 7 điều chỉnh). Tới năm 2025, tổng công suất đặt mua điện từ Lào gồm cả các nhà máy hiện trạng sẽ đạt 3.000 MW.

Về truyền tải liên kết Bắc – Trung – Nam, giới hạn truyền tải Bắc – Trung đạt 2.200 MW, giới hạn truyền tải Trung – Nam đạt 4.200 MW. Từ năm 2020 khi xây dựng xong ĐZ 500 kV Vũng Áng – Dốc Sỏi – PleiKu thì năng lực truyền tải trên tuyến Bắc – Trung nâng lên 4.200 MW. Khi ĐZ 500 kV Krong Buk – Tây Ninh đi vào vận hành thì năng lực truyền tải Trung – Nam tăng lên 6.000 MW.

Dựa trên các nguồn dự kiến này, với tình trạng hàng loạt dự án điện chậm tiến độ, Viện Năng lượng đã tính toán 2 phương án cân bằng điện năng của hệ thống: phương án 1 (với tần suất nước: năm nước trung bình 50%) và phương án 2 (với tần suất nước: năm nước khô hạn 75%).

Với phương án 1, Viện Năng lượng tính toán cân bằng điện năng của hệ thống sẽ là số âm từ năm 2020 đến năm 2024. Số âm lần lượt là: -264 GWh, -745 GWh, -1442 GWh, -1778 GWh, -115 GWh.

Kết quả này đồng nghĩa với việc đã xuất hiện khả năng thiếu hụt điện năng trong hệ thống điện với sản lượng khoảng 264 triệu kWh vào năm 2020 và gần 1,8 tỷ kWh vào năm 2023.

Các nhà máy điện toàn quốc sẽ vận hành với số giờ Tmax trên 6.500 giờ/năm trong giai đoạn 2020 – 2024, điều này tiềm ẩn nguy cơ sự cố.

Với phương án 2, do khô hạn nên sản lượng thủy điện của phương án 2 thấp hơn phương án 1 khoảng 15 tỷ kWh/năm, vì vậy thiếu hụt điện năng sẽ xảy ra ở tất cả các năm, từ 2019 – 2025.

Giai đoạn thiếu hụt nghiêm trọng nhất tập trung ở giai đoạn 2020 – 2023, với sản lượng thiếu hụt từ 1,5 tỷ kWh  – 5 tỷ kWh. Các năm còn lại thiếu từ 100 triệu kWh – 500 triệu kWh.

Huy động điện mặt trời, điện gió để bù đắp điện năng thiếu hụt

Theo Viện Năng lượng, để đảm bảo cân đối cung cầu điện từ năm 2021, cần sử dụng tối đa các nguồn điện hiện có và tăng cường phát triển các nguồn điện năng lượng tái tạo do có thể thực hiện nhanh, đáp ứng tiến độ vận hành ngày từ năm 2021.

Cụ thể, Viện đề xuất chuyển đổi nhiên liệu cho nhiệt điện Hiệp Phước 375 MW từ sử dụng FO sang sử dụng LNG; xây dựng cơ chế cung cấp LNG cho nhà máy để có thể đưa vào vận hành từ năm 2021 (có thể sử dụng LNG từ kho LNG Hải Linh);

Bổ sung thêm các nguồn điện mặt trời và điện gió; tiếp tục ký hợp đồng mua bán điện để nhập khẩu điện từ Lào phù hợp với biên bản ghi nhớ đã ký kết giữa hai chính phủ.

Về điện mặt trời – điện gió, Viện Năng lượng tính toán rằng: để đảm bảo cân đối cung cầu điện theo phương án 1 (năm nước trung bình 50%) điện gió cần đạt công suất lần lượt là: 2.730 MW (2021), 3.630 MW (2022), 4.830 MW (2023 – 2025); điện mặt trời cần đạt công suất lần lượt là: 9.650 MW (2021), 11.700 MW (2022), 13.850 MW (2023 – 2025).

Theo phương án 2 (năm nước khô hạn 75%), điện gió cần đạt công suất lần lượt là: 4.830 MW (2021), 5.230 MW (2022), 6.030 MW (2023 – 2025); điện mặt trời cần đạt công suất lần lượt là: 11.500 MW (2021), 13.700 MW (2022), 16.250 MW (2023 – 2025).

Kết quả này cho thấy để đảm bảo cân đối cung cầu giai đoạn 2023 – 2025, ngay cả trong trường hợp năm khô hạn, cần bổ sung quy hoạch thêm khoảng 6.000 MW điện mặt trời và 12.000 MW điện gió vào vận hành trong giai đoạn 2021 – 2023 so với số lượng đã được bổ sung quy hoạch.

Trong đó, nguồn điện gió và điện mặt trời bổ sung quy hoạch thêm đều lựa chọn các dự án nằm tại hệ thống điện miền Nam, gần trung tâm phụ tải thì mới có thể đưa vào vận hành kịp tiến độ 2021 – 2023.

“Để có thể tích hợp khối lượng lớn nguồn điện gió và mặt trời như trên, các nguồn điện gió và điện mặt trời bổ sung mới cần nằm ở trung tâm phụ tải miền Nam, giảm nhu cầu đầu tư lưới điện truyền tải. Ngoài ra, cần sớm đưa vào vận hành thủy điện tích năng Bác Ái theo đúng tiến độ trong Quy hoạch điện 7 điều chỉnh, đồng thời bổ sung nguồn pin tích năng ngay từ các năm 2022- 2023 tại khu vực miền Nam”, Viện Năng lượng cho hay.