Tăng điện than, bỏ gần 8.000MW năng lượng tái tạo trong Dự thảo Quy hoạch Điện VIII

Bộ Công Thương vừa đưa ra bản dự thảo Quy hoạch Điện VIII cập nhật để lấy ý kiến sau khi đã thực hiện rà soát lại theo yêu cầu tại kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành. Theo dự thảo mới này, nguồn điện năng lượng tái tạo sẽ giảm khoảng hơn 8.000 MW và điện than sẽ tăng hơn 3.000 MW.

Tăng hơn 3.000 MW điện than

Theo đó, tổng công suất đặt nguồn điện đến năm 2030 sau khi rà soát là 130.371 MW, giảm 7.688 MW so với phương án đưa ra hồi tháng 3 tại Tờ trình số 1682 công bố hồi tháng 3.2021.

Xét về các loại hình năng lượng, Bộ Công Thương cho biết, vẫn ưu tiên phát triển các nguồn điện năng lượng tái tạo và năng lượng mới gồm điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện rác; tiếp tục gia tăng tỉ trọng điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo, phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện quốc gia và từng vùng.

Tuy nhiên, ở dự thảo mới, năng lượng điện gió trên bờ và gần bờ sẽ chỉ còn 11.820 MW, giảm 4.190 MW; điện gió ngoài khơi giảm khoảng 2.000 MW. Điều này khiến tổng điện năng sản xuất từ các loại hình điện gió dự kiến chỉ còn khoảng 5,6-6,5% vào năm 2030, thấp hơn nhiều so với mức 8,1-10,3% của Tờ trình cũ…; điện sinh khối và năng lượng tái tạo khác giảm 1.980 MW về mức 1.170 MW…

Như vậy, tỷ lệ các nguồn điện gió và mặt trời sẽ giảm từ mức 26,5% xuống còn 23,4% tổng công suất các nguồn điện, còn tỷ lệ các nguồn điện than tăng từ 27,2% lên 31% tổng công suất đặt các nguồn điện.

Đáng chú ý, nguồn điện than sẽ tăng thêm khoảng 3.076 MW so với Tờ trình số 1682, lên mức 40.649 MW. Như vậy, tỉ lệ các nguồn điện than tăng từ 27,2% lên 31% tổng công suất đặt các nguồn điện.

Sẽ thu hồi dự án chậm triển khai

Đặc biệt, trong Dự thảo mới này, Bộ Công Thương đưa ra giải pháp: Dứt khoát phải xây dựng thiết chế về tính kỷ luật và tuân thủ việc thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, áp dụng đối với các chủ đầu tư, các bộ, ngành, Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và các địa phương.

Bộ này lý giải, ách tắc ở bất cứ khâu nào nếu không được quan tâm sát sao, chỉ đạo tháo gỡ kịp thời cũng có thể dẫn đến phá vỡ quy hoạch, dẫn đến thiếu điện cho đất nước, giảm hiệu quả đầu tư dự án, thậm chí thất thoát, lãng phí như đã thấy thời gian qua ở một số dự án lớn.

Cụ thể, Ban chỉ đạo quốc gia về phát triển điện lực họp ít nhất 1 lần/tháng, thường xuyên đôn đốc các dự án trọng điểm, điều phối, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư các công trình điện đảm bảo tiến độ, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ các vấn để vượt thẩm quyền.

Bộ này cũng đề xuất Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương cứ 6 tháng 1 lần rà soát các công trình nguồn điện đã duyệt trong Quy hoạch điện VII, Quy hoạch điện VII điều chỉnh và Quy hoạch điện VIII và các quy hoạch có liên quan còn hiệu lực bắt đầu từ năm 2022.

Theo đó, nếu các dự án trong các quy hoạch đã duyệt chậm quá 24 tháng trong lần rà soát đầu tiên năm 2022, sẽ điều chỉnh đẩy lùi thời kỳ phát điện của dự án sang chu kỳ 5 năm sau.

Trong lần rà soát thứ 2 của năm 2022, nếu dự án đó vẫn không có tiến triển thực tế, sẽ xem xét thu hồi để giao cho nhà đầu tư mới có năng lực triển khai, thiệt hại vật chất (nếu có) do chủ đầu tư cũ gánh chịu.

Còn đối với các dự án chưa chọn được chủ đầu tư/chưa được giao chủ đầu tư, Bộ này đề xuất: Trong vòng 12 tháng kể từ ngày quy hoạch được duyệt, UBND cấp tỉnh phải thực hiện các thủ tục lập, phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư, tổ chức lựa chọn chủ đầu tư thực hiện dự án theo các quy định của Luật đầu tư và Luật đấu thầu.

Nếu quá 12 tháng địa phương chưa thực hiện, Bộ Công Thương báo cáo Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh dự án thay thế dự án bị chậm từ danh sách các dự án trong quy hoạch đã duyệt.

Bộ Công thương cũng đề xuất được giao thẩm quyền 12 tháng 1 lần điều chỉnh kỳ phát điện và điều chỉnh công suất của các dự án nguồn điện để bám sát tình hình triển khai thực tế….

Có 24 dự án điện gió hoàn thành trước thời hạn giá ưu đãi (FIT) hết hạn

Tính đến đầu tháng 9, đã có 24 nhà máy điện gió với tổng công suất 963 MW đã hoàn thành COD và đưa vào phát điện trước thời hạn giá FIT ưu đãi hết hạn 31/10/2021

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), trong tháng 8 có 3 nhà máy hoàn thành xong thử nghiệm và được công nhận vận hành thương mại (COD), với tổng công suất 48,8 MW.

Ba dự án đủ điều kiện vận hành COD trong tháng 8, gồm Hoà Bình 1 – giai đoạn 2, công suất 15,2 MW, Số 5 Ninh Thuận (21 MW) và nhà máy điện gió 7A (12,6 MW).

Luỹ kế 8 tháng, có 24 nhà máy điện gió được vận hành thương mại, tổng công suất 963 MW.

Trong khi đó, tổng số nhà máy điện gió đăng ký đóng điện, hoà lưới và thử nghiệm vận hành thương mại với EVN là 106 nhà máy, tổng công suất 5.655,5 MW. Như vậy, công suất vận hành điện gió mới đạt gần 1/6 so với công suất dự kiến được doanh nghiệp đăng ký vận hành. Còn 2 tháng nữa để các dự án đã đăng ký đóng điện, thử nghiệm COD với EVN hoàn thiện các thủ tục đấu nối, để kịp vận hành trước 31/10/2021.

Trường hợp các dự án không kịp vận hành trước 1/11, thời điểm hết hiệu lực giá cố định (FIT) ưu đãi cho điện gió, tức là số dự án này sẽ không được hưởng giá FIT trong 20 năm. Thay vào đó, số dự án vào sau ngày 1/11 có thể sẽ phải chuyển sang cơ chế đấu thầu giá, và Bộ Công Thương đang trong quá trình hoàn thiện cơ chế này.

Theo quyết định 39, giá FIT ưu đãi cho điện gió trên biển là 9,8 cent một kWh (tương đương 2.223 đồng) và trên bờ là 8,5 cent một kWh (khoảng 1.927 đồng). Giá này chưa gồm thuế VAT, được áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ nhà máy có ngày vận hành thương mại trước 1/11 và áp dụng trong 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại.