Bộ Công thương chính thức trình Đề án Quy hoạch điện VIII lên Thủ tướng

Đề án Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo đạt khoảng 11,9-13,4% vào năm 2030 và khoảng 26,5-28,4% và năm 2045.

Đề án Quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch VIII) đã được Hội đồng thẩm định họp xem xét và bỏ phiếu thông qua vào ngày 3/10/2021. Sau khi tiếp thu ý kiến của các thành viên Hội đồng Thẩm định, ngày 8/10, Bộ Công thương đã hoàn thiện và có tờ trình tới Thủ tướng Chính phủ để phê duyệt Đề án Quy hoạch điện VIII

Trong quá trình xây dựng Đề án, Bộ Công thương đã nhận được 681 ý kiến góp ý của các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức lẫn các chuyên gia hồi đầu năm nay.

Sau khi được rà soát và bổ sung gần đây, Bộ Công thương đã nhận thêm được 157 ý kiến của các cơ quan bộ ngành và 143 ý kiến của các tập đoàn, tổng công ty.

Theo đánh giá của Đề án Quy hoạch Điện VIII, tính tới cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn quốc đạt 69.342 MW, trong đó miền Bắc là 25.121 MW, miền Trung là 12.232 MW và miền Nam là 31.898 MW.

Xét về mặt cơ cấu thì thuỷ điện đóng góp 20.993 MW (30,3% công suất và 29,6% sản lượng); nhiệt điện than là 21.383 MW (30,8% công suất và 50% sản lượng); tuabin khí 9.025 MW (13.1% công suất và 14,6% sản lượng); điện gió là 538 MW (0,8% công suất và 0,4% sản lượng); điện mặt trời 16.506 MW (23,8% công suất, 3,7% sản lượng); các nguồn khác là 325 MW; điện nhập khẩu là 572 MW.

Hiện Hệ thống điện Việt Nam có quy mô đứng thứ 2 Đông Nam Á và thứ 23 trên thế giới.

Về cơ bản, hệ thống điện đảm bảo đáp ứng nhu cầu phụ tải, tuy nhiên dù có công suất lắp đặt tương đối cao so với nhu cầu phụ tải cực đại (69.342/38.617 MW) nhưng mức độ dự phòng công suất của hệ thống khá thấp, do tính chất thay đổi theo mùa của thuỷ điện, nhu cầu sửa chữa, bảo dương nhiệt điện và tính bất định của nguồn điện gió, mặt trời.

Nếu không tính các nguồn điện gió, mặt trời thì vào mùa mưa, tỷ lệ dự phòng công suất khả dụng chỉ là 9,06% và vào mùa khô là khoảng 8,16%.

Trong đề xuất tại tờ trình 6277/TTr-BCT vào ngày 8/10/2021, Bộ Công thương cho hay, kết quả dự báo phụ tải toàn quốc và các miền sau khi tiến hành rà soát không thay đổi so với kết quả đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại tờ trình 1682/TTr-BCT ngày 26/3/2021.

Quy hoạch điện VIII lần này được xây dựng nhằm mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của cả nước với mức tăng GDP bình quân là khoảng 6,6%/năm trong giai đoạn 2021-2030 và khoảng 5,7%/năm trong giai đoạn 2031-2045.

Trong số các mục tiêu được đặt ra có việc ưu tiên khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo đạt khoảng 11,9-13,4% vào năm 2030 và khoảng 26,5-28,4% và năm 2045.

Theo kế hoạch phát triển nguồn điện, năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 102.590-105.265 MW, trong đó: thủy điện đạt 25.323 MW chiếm tỷ lệ 24,1-24,7%; nhiệt điện than 29.679 MW chiếm tỷ lệ 28,2-28,9%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 14.117 MW chiếm tỷ lệ 13,4-13,7%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, …) 29.618-31.418 MW chiếm tỷ lệ 28,9-29,8%; nhập khẩu điện 3.853-4.728 MW chiếm tỷ lệ 3,7-4,5%.

Vào năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 130.371-143.839 MW, trong đó: thủy điện và thủy điện tích năng đạt 26.684-27.898 MW chiếm tỷ lệ 19,4-20,5%; nhiệt điện than 40.899 MW chiếm tỷ lệ 28,4-31,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 27.471-32.271 MW chiếm tỷ lệ 21,1-22,4%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, …) 31.380-37.030 MW chiếm tỷ lệ 24,3-25,7%; nhập khẩu điện 3.936-5.742 MW chiếm tỷ lệ 3-4%. Tới năm 2045, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 261.951-329.610 MW, trong đó: thủy điện và thủy điện tích năng đạt 35.677-41.477 MW chiếm tỷ lệ 12,6-13,6%; nhiệt điện than 50.949 MW chiếm tỷ lệ 15,4-19,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) 61.683-88.533 MW chiếm tỷ lệ 23,5-26,9%; nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, …) 104.900-137.610 MW chiếm tỷ lệ 40,1-41,7%; nhập khẩu điện 8.743-11.042 MW chiếm tỷ lệ 3,3%.

So với tờ trình 1682/TTr-BCT, ở phương án phụ tải cơ sở, năm 2030, tổng công suất đặt trong tờ trình 6277/TTr-BCT đã giảm 7.689 MW, còn năm 2045 giảm 15.000 MW.

Ở phương án phụ tải cao, tờ trình mới cũng giảm 6.000 MW vào năm 2030 và giảm 14.200 MW vào năm 2045.

Bộ Công thương cũng kiến nghị lựa chọn kịch bản phụ tải cao làm phương án điều hành, nhằm đảm bảo mức dự phòng nguồn điện hợp lý, nhằm đáp ứng nhu cầu điện cho nền kinh tế tăng trưởng theo mục tiêu được đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước tới năm 2045.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện chương trình phát triển điện lực lựa chọn trong giai đoạn 2021-2030 khoảng 99,32-115,96 tỷ USD, trong đó: vốn đầu tư cho phát triển nguồn điện khoảng 85,70-101,55 tỷ USD (mỗi năm khoảng 8,57- 10,15 tỷ USD), cho lưới điện truyền tải khoảng 13,58-14,41 tỷ USD (mỗi năm khoảng 1,36-1,44 tỷ USD).

Tổng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện chương trình phát triển điện lực lựa chọn trong giai đoạn 2031-2045 khoảng 180,1-227,38 tỷ USD, trong đó: vốn đầu tư cho phát triển nguồn điện khoảng 163,14-208,89 tỷ USD (mỗi năm khoảng 10,88-13,93 tỷ USD), cho lưới điện khoảng 16,93-18,49 tỷ USD (mỗi năm khoảng 1,13-1,23 tỷ USD).Tổng công suất nguồn điện gió trên bờ và gần bờ khoảng 11.458-12.208 MW vào năm 2025, khoảng 11.820-12.470 MW năm 2030 và khoảng 27.110- 32.720 MW năm 2045.
Tổng công suất điện gió ngoài khơi khoảng 2.000 MW hoặc có thể cao hơn khi điều kiện kinh tế và kỹ thuật cho phép vào năm 2030 và khoảng 21.000-36.000 MW năm 2045.
Tổng điện năng sản xuất từ các loại hình điện gió dự kiến chiếm tỷ trọng khoảng 7,9-8,1% vào năm 2025, khoảng 5,7-6,8% năm 2030 và khoảng 15,7-17,9% năm 2045.
Phát triển các nguồn điện năng lượng mặt trời, gồm cả các nguồn tập trung lắp đặt trên mặt đất, mặt hồ và các nguồn phân tán lắp đặt trên mái nhà. Tổng công suất nguồn điện mặt trời khoảng 16.990-18.040 MW vào năm 2025, khoảng 18.390-21.390 MW năm 2030 và khoảng 51.540-63.640 MW năm 2045

Theo Báo điện tử Đầu Tư.

Điện mặt trời có thể bị cắt giảm khoảng 8 tỉ kWh trong năm 2021?

Theo các chuyên gia năng lượng, trong năm 2021, có khả năng năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời sẽ bị cắt giảm công suất lớn, không chỉ dừng lại ở con số 1,3 tỉ kWh như dự báo của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0).

Tại Tuần lễ Năng lượng thế giới diễn ra trong 3 ngày (5-7.10) tại Việt Nam, TS Lê Hải Hưng – thành viên chuyên gia Hội đồng năng lượng thế giới (WEC), Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ cho biết, theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tính đến cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt điện mặt trời, bao gồm điện mặt trời mặt đất và điện mặt trời mái nhà đạt xấp xỉ 19.400 MWp, tức là chiếm khoảng 25% tổng công suất của hệ thống điện ở Việt Nam.

Tuy nhiên, sản lượng điện của hệ thống điện mặt trời mới chỉ chiếm 4,3% (tức khoảng 10 tỉ kWh so với khoảng 247 tỉ kWh) tổng điện năng thương mại của cả nước.

Theo ông Hưng, sự phát triển điện mặt trời ồ ạt trong thời gian vừa qua đã gây ra quá tải nghiêm trọng cho hệ thống truyền tải điện vốn đã khá yếu của Việt Nam. Điều này dẫn tới việc nhiều nhà máy điện mặt trời đã phải cắt giảm công suất phát, gây thiệt hại cho nhà đầu tư và làm giảm động lực phát triển của điện mặt trời.

“Do chỉ phát vào các giờ nắng, nên điện mặt trời được coi là một nguồn điện thất thường, không tin cậy trong các quá trình sản xuất công nghiệp và ngay cả trong sinh hoạt dân sinh”, ông Hưng cho hay.

Điện mặt trời có thể bị cắt giảm công suất lớn. Ảnh minh hoạ, nguồn VT
Điện mặt trời có thể bị cắt giảm công suất lớn. Ảnh minh hoạ, nguồn VT 

Theo tính toán của A0, trong năm 2021, dự kiến cả nước sẽ phải xả bỏ khoảng 1,3 tỉ kWh năng lượng tái tạo để đảm bảo an toàn cho hệ thống truyền tải. 

Tuy nhiên, TS Lê Hải Hưng khẳng định, theo nghiên cứu và tính toán của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ thì điện năng phải “xả bỏ” đi trong năm 2021 có thể nhiều hơn.

Cụ thể, với hệ thống điện mặt trời tập trung (có tổng công suất 10.000MWp phát điện thương mại) thì tổng điện năng phát ra khoảng 18 tỉ kWh. Nếu hệ thống truyền tải hiện tại chỉ tiếp nhận được khoảng 10 tỉ kWh như 2020 thì năm 2021 lượng điện phải xả bỏ vào khoảng 8 tỉ kWh. Đó là chưa kể các trạm điện mặt trời áp mái cũng phải xả bỏ một phần điện năng vào khung giờ cao điểm.

Nếu tính giá điện trung bình là 2.000 đồng/kWh, chỉ năm 2021 chúng ta (có thể) sẽ lãng phí khoảng 16.000 tỉ đồng – ứng với khoảng 700 triệu USD. “Đây là một con số lãng phí vô cùng lớn trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn và EVN đang phải nhập khẩu điện từ Trung Quốc và Lào”, ông Hưng nói.

Lưu trữ năng lượng là xu hướng tất yếu

Để hạn chế sự cắt giảm điện mặt trời trong năm 2021, theo ông Hưng, cần phải có hệ thống và công nghệ lưu trữ năng lượng, bởi đây là xu hướng tất yếu trong việc phát triển năng lượng tái tạo.

“Chúng tôi cho rằng, để hạn chế việc cắt giảm công suất cần có nghiên cứu đặc tính năng lượng trong mô hình hệ thống điện mặt trời nối lưới kết hợp pin lưu trữ công suất 1 MW.

Nghiên cứu, xây dựng, lắp đặt hoàn chỉnh một hệ thống điện mặt trời công suất 1MWp nối lưới với hệ pin lưu trữ lithium hoặc vanadium với công suất 500kW/2000kWh để kết nối và điều hòa các nguồn năng lượng trong hệ thống với phụ tải. 

Đồng thời thu thập kết quả thực tiễn, xây dựng dữ liệu, quy trình ứng dụng công nghệ điện mặt trời kết hợp pin lưu trữ”, ông Hưng đề xuất.

Sẽ phải nhập khẩu hàng trăm triệu tấn than để phát triển nhiệt điện

Cũng trong khuôn khổ Tuần lễ Năng lượng thế giới, ông Lê Nguyên Minh – thành viên chuyên gia Hội đồng Năng lượng thế giới cũng có những ý kiến, quan điểm về dự thảo Quy hoạch Điện VIII vừa được Hội đồng thẩm định thông qua, chuẩn bị trình Thủ tướng. 

Ông Minh cho rằng, theo dự thảo Quy hoạch Điện VIII, từ 2026-2045, Việt Nam xây dựng tiếp 54 nhà máy nhiệt điện than và tuabin khí hỗn hợp với tổng công suất đặt 82.830 MW, chiếm trên 50% tổng công suất đặt năm 2045.

Đây là định hướng không phù hợp với xu thế phát triển nguồn điện hiện nay trên thế giới. Bởi Việt Nam sẽ phải nhập khẩu hàng trăm triệu tấn than, LNG từ xa 4.000 km để đốt và xử lý hàng triệu tấn chất thải gây ô nhiễm môi trường.

Quy hoạch nên bớt đi một vài nhà máy điện, đồng thời giành chi phí hỗ trợ phát triển điện năng lượng tái tạo, nghiên cứu sản xuất pin lưu trữ trong nhiệm vụ cân bằng lưới điện quốc gia và tiêu thụ điện hộ gia đình.