Điện gió ngoài khơi có thể tạo giá trị gia tăng 60 tỷ USD cho Việt Nam vào năm 2030

“Càng ngày công nghệ càng phát triển. Với quy mô, sản lượng dự án về năng lượng điện gió, và điện gió ngoài khơi phát triển thì giá thành điện gió sẽ giảm dần, có thể giảm tới một nửa, thậm chí rẻ hơn điện than” – ông Đỗ Quang Hiển, Chủ tịch HĐQT T&T Group nói.

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với đường bờ biển trải dài trên 3.200 km, vì vậy tiềm năng phát triển năng lượng gió nói chung và điện gió ngoài khơi (ĐGNK) nói riêng là rất lớn. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển thị trường ĐGNK với quy mô 5-10 GW vào năm 2030, giúp tạo ra tổng giá trị gia tăng hơn 60 tỷ USD cho nền kinh tế. 

Nhiều tổ chức quốc tế cũng khuyến nghị quy mô để bảo đảm tính hiệu quả của ngành ĐGNK của Việt Nam ở giai đoạn đầu tiên tối thiểu khoảng 5 GW. ĐGNK có thể đóng vai trò quan trọng trong tổng cung năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới. Phát triển ĐGNK tại Việt Nam còn giúp lan tỏa, góp phần tạo ra công ăn việc làm và từng bước hình thành ngành công nghiệp phụ trợ đi kèm theo.

Với việc xác định sẽ chuyển đổi ngành năng lượng theo hướng xanh, điện gió ngoài khơi chắc chắn là một trong những lựa chọn hiệu quả nhất cho Việt Nam, và bài học đã được nhìn thấy ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới.

Theo các chuyên gia năng lượng và các tổ chức quốc tế, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng rất lớn để phát triển điện gió ngoài khơi với hơn 3.200 km bờ biển và tốc độ gió ổn định ở mức cao. Với tốc độ trung bình hơn 10m/s, vùng lãnh hải của Việt Nam nằm trong top 10% những nơi có nhiều gió nhất trên hành tinh. Nhiều quốc gia khác trong khu vực cũng có tốc độ gió tốt nhưng lại bị hạn chế bởi biển sâu.

“Tuy nhiên, phát triển ĐGNK tại Việt Nam là lĩnh vực mới. Vì vậy, còn nhiều vấn đề cần được đặt ra và giải quyết thoả đáng bao gồm việc xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng lưới điện, nâng cao năng lực thi công, xây lắp và đặc biệt quan trọng là phát triển chuỗi cung ứng nội địa”, ông Anh Lê Tuấn Anh Vụ trưởng Vụ kinh tế CN – Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhấn mạnh tại Hội nghị về chuỗi cung ứng ĐGNK tại Việt Nam cũng như các tiềm năng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ĐGNK do Tập đoàn Orsted và Tập đoàn T&T Group đồng tổ chức mới đây.

Ông Phạm Nguyên Hùng – Phó Cục trưởng Cục điện lực và năng lượng tái tạo, Bộ Công thương nhận định tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam ước tính khoảng gần 500 GW về mặt kỹ thuật, là nguồn điện rất lớn so với khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ năng lượng mới nói chung và năng lượng tái tạo (NLTT) nói riêng ngày càng phát triển với chi phí ngày càng cạnh tranh so với nguồn điện truyền thống.

Vì vậy, nguồn năng lượng điện gió được đánh giá sẽ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gia tăng việc làm, tăng cường cung ứng trong nước và thúc đẩy tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tại nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra mục tiêu “Tỷ lệ các nguồn NLTT trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 – 20% vào năm 2030; 25 – 30% vào năm 2045”. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 cũng nhấn mạnh: “Tăng trưởng xanh góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa các-bon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu”.

Trong đó, năng lượng là một lĩnh vực trọng tâm, ưu tiên với các giải pháp đột phá nhằm xanh hóa các ngành kinh tế và xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng để có thể hiện thực hoá cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP 26, giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050, giảm 30% lượng phát thải khí metan gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030.

Nhìn thấy tiềm năng trong lĩnh vực này, sau khi thực hiện hàng loạt dự án điện gió trên bờ, T&T Group đã ký một thỏa thuận hợp tác “khủng” với Tập đoàn năng lượng Ørsted (Đan Mạch) để đầu tư 4 dự án điện gió tại Bình Thuận và Ninh Thuận và Hải Phòng với tổng vồn đầu tư lên tới khoảng 30 tỷ USD trong 20 năm.

 Nhà máy điện gió ngoài khơi Ninh Thuận 1

Dự án Nhà máy điện gió ngoài khơi Ninh Thuận 1 có công suất lắp đặt dự kiến: 3.000 MW chia làm 3 giai đoạn năm 2028, 2030 và 2035, mỗi giai đoạn phát triển 1.000 MW. Tổng mức đầu tư trước thuế dự kiến là 223.462 tỷ đồng.

Dự án này đã được UBND Tỉnh Ninh Thuận trình Bộ Công Thương đề nghị cập nhật vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Quy hoạch điện VIII) tại văn bản số 2926/UBND-KTTH ngày 16 tháng 6 năm 2021.

Nhà máy điện gió ngoài khơi Ninh Thuận 2

Dự án Nhà máy điện gió ngoài khơi Ninh Thuận 2 có công suất lắp đặt dự kiến: 2.000 MW chia làm 2 giai đoạn năm 2033 và 2035, mỗi giai đoạn phát triển 1.000 MW. Tổng mức đầu tư trước thuế dự kiến là 157.556 tỷ đồng.

Dự án ĐGNK Ninh Thuận 2 đã được UBND Tỉnh Ninh Thuận trình Bộ Công Thương đề nghị cập nhật vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Quy hoạch điện VIII) tại văn bản số 2927/UBND-KTTH ngày 16 tháng 6 năm 2021.

Nhà máy điện gió ngoài khơi Tuy Phong

Dự án Nhà máy điện gió ngoài khơi Tuy Phong có công suất lắp đặt dự kiến: 4.600 MW chia làm 3 giai đoạn năm 2028, 2032 và 2034. Trong đó, giai đoạn 1 phát triển 1.000 MW, 2 giai đoạn sau mỗi giai đoạn 1.800MW. Tổng mức đầu tư trước thuế dự kiến là 367.780 tỷ đồng

Dự án ĐGNK Tuy Phong đã được UBND Tỉnh Bình Thuận trình Bộ Công Thương trình tổng thể trong danh mục các dự án ĐGNK tiềm năng của Tỉnh đề nghị cập nhật vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Quy hoạch điện VIII) tại văn bản số 589/UBND-KT ngày ngày 18 tháng 2 năm 2021.

Nhà máy điện gió ngoài khơi Hải Phòng

Dự án Nhà máy điện gió ngoài khơi Hải Phòng có công suất lắp đặt dự kiến: 3.900 MW chia làm 2 giai đoạn năm 2033 và 2035, mỗi giai đoạn phát triển 1.300 MW. Tổng mức đầu tư trước thuế dự kiến là 261.425 tỷ đồng

Dự án ĐGNK Hải Phòng đang trong giai đoạn lập Hồ sơ Dự án đầu tư (Pre FS) để trình UBND Thành phố Hải Phòng trình Bộ Công thương bổ sung vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Quy hoạch điện VIII). Hồ sơ Pre FS đã được tư vấn Viện Năng lượng lập và đang trong giai đoạn hoàn chỉnh các góp ý của Orsted. Dự kiến sẽ được trình tại cuộc họp giữa Sứ quán Đan Mạch, Orsted, T&T vào ngày 02/11/2021 tại UBND Hải Phòng.

Ngoài 4 dự án trên, T&T Group còn hướng tới việc tạo ra nền tảng cho lĩnh vực điện gió, đi sâu vào sản xuất, chuyển giao công nghệ sản xuất để phục vụ công nghiệp xanh, không chỉ phục vụ trong nước mà còn để xuất khẩu, phục vụ các khu vực khác.

“Hiện nay, càng ngày công nghệ càng phát triển; với quy mô, sản lượng dự án về năng lượng điện gió, và điện gió ngoài khơi phát triển thì giá thành điện gió sẽ giảm dần, có thể giảm tới một nửa, thậm chí rẻ hơn điện than” – ông Đỗ Quang Hiển, Chủ tịch HĐQT T&T Group nói.

Năng lượng tái tạo vẫn sẽ gặp khó trong năm 2022

Tổng sản lượng thủy điện năm 2022 dự kiến là 82,5 tỷ kWh, cao hơn 3,8 tỷ kWh so với năm 2021. Các nguồn điện truyền thống dự kiến vào vận hành năm 2022 là 3.407 MW, bao gồm các nhà máy nhiệt điện lớn (600 MW/tổ máy) như Nghi Sơn 2 và Sông Hậu 1. Đặc biệt, sẽ không bổ sung nguồn điện gió, điện mặt trời trang trại và điện mặt trời mái nhà.


Tại Hội nghị tổng kết năm 2021 và triển khai kế hoạch năm 2022 của Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia (A0) diễn ra sáng 10/1, Phó Giám đốc Nguyễn Quốc Trung cho biết, theo Quyết định số 3063/QĐ-BCT ngày 31/12/2021 của Bộ Công Thương về việc phê duyệt Kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện Quốc gia năm 2022, tổng điện năng sản xuất của các nhà máy điện (tại đầu cực máy phát) và nhập khẩu toàn quốc (bao gồm cả sản lượng điện mặt trời mái nhà) năm 2022 dự kiến đạt 275,5 tỷ kWh, tăng 7,9% so với năm 2021.

Theo đó, tổng sản lượng thủy điện dự kiến là 82,5 tỷ kWh, cao hơn 3,8 tỷ kWh so với năm 2021. Các nguồn điện truyền thống dự kiến vào vận hành năm 2022 là 3.407 MW, bao gồm các nhà máy nhiệt điện lớn (600 MW/tổ máy) như Nghi Sơn 2 và Sông Hậu 1. Trong năm 2022 không bổ sung nguồn điện gió, điện mặt trời trang trại và điện mặt trời mái nhà.

Ngoài ra, khả năng cấp khí cho sản xuất điện năm 2022 trong những ngày bình thường từ nguồn khí Đông Nam Bộ đạt từ 13,5 – 14,5 triệu m3 khí/ngày, khí Tây Nam Bộ đạt từ 3,9 – 4,5 triệu m3/ngày. Năm 2022 dự kiến mua điện Trung Quốc với sản lượng khoảng 380 triệu kWh trong các tháng 5, 6.

Đối với miền Bắc, trong năm 2022, phụ tải đỉnh miền Bắc dự kiến tăng trưởng 9,5 – 13%, tương đương nhu cầu tăng thêm 2.497 – 2.870 MW/năm. Trong bối cảnh không có nhiều nguồn mới bổ sung, miền Bắc sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro thiếu hụt công suất đỉnh, đặc biệt trong các tháng nắng nóng cao điểm (5 – 6 – 7).

Với thực tế này, A0 đã đề xuất các biện pháp nâng cao khả năng cấp điện cho miền Bắc trong năm 2022 như: Điều chỉnh lịch sửa chữa; Thay đổi kết dây khu vực Nghi Sơn khi cần thiết để tận dụng tối đa khả năng cấp điện của nhà máy Nghi Sơn 2 cho miền Bắc; Đề xuất và tính toán mua điện Trung Quốc theo chỉ đạo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và đẩy mạnh triển khai chương trình Điều chỉnh phụ tải điện (DR).

Về chi phí phát điện năm 2022, theo Phó Giám đốc Nguyễn Quốc Trung, hiện tại các mỏ khí giá rẻ đang ngày càng suy giảm. Các mỏ khí giá đắt được đưa vào khai thác đồng thời với chính sách các nhà máy điện khí BOT vẫn tiếp tục được áp dụng giá khí bao tiêu, dẫn tới đẩy chi phí các mỏ khí mới vào các nhà máy điện khí khác cùng khu vực, ảnh hưởng tới chi phí điện toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, ngay cả khi đã đóng điện đủ các công trình mới để đảm bảo cung cấp điện cho những trung tâm phụ tải quan trọng như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cũng như giải tỏa nguồn năng lượng tái tạo (NLTT), nhiều máy biến áp 500kV đầy tải ngay trong chế độ vận hành bình thường.

Đặc biệt, hệ thống điện miền Bắc có nguy cơ thiếu công suất đỉnh ở mức khoảng 1.590MW với phương án công suất Pmax tăng trưởng 9,5%, và khoảng 2.770MW với phương án Pmax tăng trưởng 15% trong các tháng cao điểm mùa khô.

“Vấn đề giải tỏa các nguồn NLTT trong năm 2022 vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, do lưới điện chưa đáp ứng kịp so với lượng nguồn NLTT đã được đưa vào vận hành trong các năm vừa qua” – ông Nguyễn Quốc Trung thông tin.

Cụ thể tại các khu vực: Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Cà Mau, Bạc Liêu. Ngoài ra, với tỷ lệ nguồn NLTT đưa vào vận hành ngày càng cao, vấn đề ổn định hệ thống điện trong vận hành thời gian thực là một thách thức lớn.

Như vậy, để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn vận hành, an toàn, tin cậy và kinh tế hệ thống điện thì việc tính toán, vận hành hệ thống điện quốc gia nói chung và miền Bắc nói riêng trong năm 2022 sẽ tiếp tục có nhiều thử thách đối với Điều độ Quốc gia nói riêng và EVN nói chung.

Trở lại năm 2021, là một năm vận hành với nhiều biến động và khó khăn của hệ thống điện Quốc gia. Mặc dù vậy, ông Nguyễn Quốc Trung cho biết, với sự chỉ đạo sát sao của EVN, A0 và các Trung tâm Điều độ HTĐ miền đã vận hành hệ thống điện và thị trường điện năm 2021, đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định, đặc biệt trong các dịp lễ Tết, các ngày diễn ra sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội quan trọng của đất nước.

Tổng nguồn điện mới đưa vào vận hành năm 2021 là 7.433MW, nâng tổng công suất đặt HTĐ Quốc gia lên 78.682MW; trong đó bao gồm 75 nhà máy điện gió với tổng công suất khoảng 3.600 MW. Đến cuối năm 2021, tổng số nhà máy điều độ quốc gia nắm quyền điều khiển là 337, tăng 73 nhà máy so với năm 2020.

Hiện có 104 nhà máy tham gia trực tiếp trong thị trường điện với tổng công suất đặt 27.990MW, chiếm 36,8% tổng công suất đặt các nhà máy điện. Trong năm có thêm 4 nhà máy mới tham gia thị trường với tổng công suất 372MW.

Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn tham gia thị trường điện so với tổng công suất đặt hệ thống lại giảm xuống còn 36,8%, do đa phần các nguồn mới vận hành là nguồn không phải đối tượng hoặc chưa tham gia thị trường điện.

Ngoài ra, điều độ quốc gia còn đóng điện nghiệm thu nhiều công trình đường dây và trạm biến áp (TBA) quan trọng trên lưới điện 500kV như: Đóng điện mới 8 máy biến áp với tổng dung lượng 4.387 MVA; Nâng công suất 5 máy biến áp với tổng dung lượng 3.900 MW; Đóng điện mới 14 đường dây 500kV với tổng chiều dài 2.022 km. Đây là các công trình trọng điểm của HTĐ Quốc gia trong năm 2021, góp phần quan trọng vận hành hệ thống điện an toàn và ổn định và giải tỏa công suất cho nguồn NLTT, mang lại hiệu quả kinh tế và chính trị to lớn. Đồng thời đóng mới 203 máy biến áp 220kV – 110kV với tổng dung lượng 13.016 MVA; đóng mới 236 đoạn đường dây 220kV – 110kV với tổng chiều dài 3.450 km.

Điều độ quốc gia đã vận hành hệ thống điện an toàn, liên tục, đặc biệt trong các giai đoạn khó khăn như nắng nóng cao điểm mùa khô tại miền Bắc; các cơn bão lớn số 5, số 6, số 7, số 13 trong giai đoạn mùa lũ tại miền Trung; khối lượng lớn công việc liên quan tới đóng điện công trình mới nguồn năng lượng tái tạo và các công trình lưới điện hỗ trợ giải tỏa công suất nguồn, nhất là trong giai đoạn cao điểm cuối năm 2021.