Năng lượng tái tạo : Vỡ quy hoạch, chờ chính sách mới.

Điện mặt trời vỡ quy hoạch, lưới điện quá tải, chính sách trở thành một điểm nghẽn trong phát triển các nguồn điện tái tạo ở Việt Nam.

Việt Nam trong nhiều năm đã cố gắng thu gom các nguồn năng lượng trên cả nước nhằm duy trì khả năng cung ứng điện cho phát triển kinh tế, trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch đã tới hạn.

Những dự án dừng giữa đường

Việc ban hành Chiến lược Phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2030 vào năm 2015 và một loạt chính sách kèm theo đã giúp Việt Nam thu hút được làn sóng đầu tư phát triển các nguồn điện tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời. Đầu tư vào điện mặt trời thực sự bùng nổ, trung bình 9 dự án/tháng, ngay sau khi giá bán điện mặt trời được Chính phủ điều chỉnh tăng lên mức 9,35 cent/kWh, tương đương 2.100 đồng/kWh, kể từ tháng 4.2017, theo Quyết định 11/QĐ-TTg.

Công ty Phong điện Thuận Bình có kế hoạch phát triển một số dự án điện mặt trời tại Bình Thuận, Ninh Thuận và Đắk Lắk. Ông Bùi Văn Thịnh, Tổng Giám đốc Công ty Thuận Bình, cho biết, đã có những đầu tư nhất định nhằm đảm bảo đến năm 2030, Công ty sẽ có 1.000MW, trong đó 1/3 là điện gió và 2/3 là điện mặt trời.

Thậm chí, Thuận Bình đã đầu tư xây dựng tuyến đường 2,7km, nối dự án với Quốc lộ 1 để phát triển dự án điện mặt trời xen kẽ không gian điện gió và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, Thuận Bình quyết định dừng toàn bộ kế hoạch phát triển các dự án điện mặt trời vào cuối năm 2018. Quyết định gây tốn kém này được đưa ra dựa trên các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm triển khai điện gió Phú Lạc, dự án điện gió đầu tiên tại Việt Nam, của chính Thuận Bình. Điều đó cũng cho thấy, Thuận Bình quyết không đổ tiền vào những dự án không chắc chắn.

Nhiều nhà đầu tư cảm thấy việc đầu tư vào điện mặt trời là một sai lầm. Đầu tư vào điện mặt trời tăng mạnh đã phá vỡ quy hoạch về năng lượng tái tạo trong Tổng sơ đồ Điện 7 điều chỉnh, vốn chỉ ước tính được một phần công suất các nguồn năng lượng tái tạo, không tính đến đường dây và trạm biến áp truyền tải sẽ phát triển qua từng năm. Đến nay, theo số liệu của Bộ Công Thương, tổng công suất nguồn đầu tư đã lên tới 17.000MW, trải khắp các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, trong khi công suất vào năm 2018 chỉ vỏn vẹn 86MW.

Xung đột hệ thống truyền tải đã buộc nhiều nhà máy phải giảm phát điện từ 10-50% công suất, trong khi Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang cố gắng triển khai các giải pháp tình thế như xây dựng và cải tạo các dự án lưới điện, nhằm giải tỏa công suất. Thực trạng này làm giảm khả năng hỗ trợ cung cấp điện của các nguồn năng lượng tái tạo thời gian tới, giảm lòng tin và động lực đối với các nhà đầu tư, trong bối cảnh thiếu nguồn điện trầm trọng ở khu vực phía Nam.

Thế nhưng, đầu tư vào điện mặt trời chắc chắn chưa dừng lại. Trên bản đồ điện mặt trời mới nhất do World Bank vừa công bố, tài nguyên điện mặt trời của Việt Nam có khả năng bức xạ nhiệt khoảng 2.506 kWh/m2/năm và kéo dài ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Mòn mỏi chờ chính sách mới

Điểm nghẽn chính sách vẫn có thể tái diễn nếu khoảng trống về chính sách không nhanh chóng được khỏa lấp. Đến thời điểm này, toàn bộ các dự án điện mặt trời đã vận hành hoặc đang triển khai sau ngày 30.6.2019 vẫn mỏi mắt chờ chính sách mới. Chính phủ vẫn chưa ban hành một cơ chế mới, thay thế cho cơ chế hỗ trợ giá FIT theo Quyết định 11/QĐ-TTg đã hết hiệu lực kể từ ngày 30.6.2019, ngoại trừ tỉnh Ninh Thuận được Chính phủ gia hạn đến hết năm 2020. Chính phủ cũng chưa có quyết định cơ chế giá FIT điện mặt trời áp dụng theo vùng, trong khi lượng điện phát ra từ các nhà máy điện mặt trời chỉ mới được ghi nhận, chưa có biểu giá thanh toán.

Một quy hoạch đồng bộ ở tầm quốc gia là vô cùng cần thiết cho Việt Nam để đảm bảo an ninh năng lượng, chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Vũ Đình Ánh nhận định. Theo ông, chính sách và chất lượng kém của quy hoạch năng lượng nói chung, năng lượng tái tạo nói riêng, đã gây nghẽn từ khâu phát điện, truyền tải đến phân phối và bán lẻ. Giá điện mặt trời áp dụng trong thời gian nhất định là vấn đề then chốt làm vỡ quy hoạch chỉ trong mấy tháng, trong khi các yếu tố liên quan đến phân cấp về xây dựng và thực hiện quy hoạch, sử dụng đất đai, sự minh bạch và nguồn vốn đều không được coi trọng.

“Quy hoạch là do Nhà nước xây dựng nhưng thực hiện là khu vực kinh tế tư nhân, cả trong nước và ngoài nước”, ông Ánh chỉ rõ thực tế. Tổng sơ đồ Điện 8 đang được xây dựng, theo ông Ánh, điểm nghẽn có thể sẽ nhiều hơn nếu quy hoạch phát triển năng lượng nói chung, năng lượng tái tạo nói riêng không gắn với vấn đề sử dụng đất. Đất đai, lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm, nhưng ngay cả Ninh Thuận, một tỉnh phát triển năng lượng tái tạo lớn nhất cả nước, cũng chưa đặt nặng vấn đề này.

Quy hoạch mới cũng cần gắn với quy hoạch vốn phát triển các nguồn điện tái tạo. Việt Nam cần khoảng 100 tỉ USD để phát triển năng lượng tái tạo, theo dự báo của World Bank. Tuy nhiên, việc các dự án điện tái tạo giảm phát điện lên tới 30-40% đang ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực các nhà đầu tư. Chưa kể đến việc tiếp cận các cơ hội đầu tư mới, thì khả năng thanh toán các khoản vay ngân hàng, kể cả trong chương trình Tín dụng xanh mà Ngân hàng Nhà nước đang triển khai, cũng sẽ có vấn đề. Đây là bài toán khó giải đối với bất cứ nhà đầu tư nào.

Ông Nguyễn Văn Ngọc, Tổng Giám đốc Sơn Vũ, kiến nghị: “Chính phủ sớm có quy hoạch năng lượng quốc gia cho các nguồn điện, trong đó, có các nguồn điện mới và tái tạo, cũng như quy định giá cho từng vùng, phù hợp với lượng bức xạ. Một quy hoạch rõ ràng giúp chúng tôi yên tâm hơn về đồng vốn bỏ ra đầu tư”.

Thiệt hại gần 500 tỷ đồng do phải giảm phát công suất dự án điện mặt trời

Ngày 17.10, Đoàn công tác Chính phủ do Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng dẫn đầu có buổi làm việc với tỉnh Ninh Thuận về tình hình phát triển điện lực và các nội dung liên quan đến giải tỏa công suất các nguồn năng lượng tái tạo trên địa bàn Ninh Thuận.

Báo cáo với Đoàn công tác, ông Lưu Xuân Vĩnh, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận cho biết, thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ (TTCP) về phát triển 2.000 MW điện mặt trời (ĐMT) trên địa bàn Ninh Thuận đến năm 2020, trên cơ sở dự án được TTCP và Bộ Công thương phê duyệt bổ sung vào quy hoạch phát triển điện lực, UBND tỉnh Ninh Thuận đã cấp quyết định chủ trương đầu tư cho 30 dự án với tổng công suất 1.817 MW.

Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng cùng đoàn công tác khảo sát các dự án năng lượng sạch tại Ninh Thuận /// Thiện Nhân

Đến ngày 30.6.2019, địa phương đã có 18 dự án năng lượng sạch (15 dự án ĐMT với tổng quy mô công suất 1.063 MW và 3 dự án điện gió (ĐG), tổng công suất 117 MW) đã chính thức đưa vào vận hành thương mại. Tuy nhiên, việc giải phóng công suất cho 18 dự án năng lượng sạch đang gặp rất nhiều khó khăn.

Hiện có đến 10/18 dự án (9/15 dự án ĐMT và 1/3 dự án ĐG) công suất 359 MW phải thực hiện giảm phát đến 60% công suất (tương đương 215 MW) để đảm bảo ổn định hệ thống truyền tải. Dự kiến đến cuối năm 2019, có 4 dự án, công suất 140 MW và năm 2020 có 12 dự án, công suất 614 MW tiếp tục đưa vào vận hành thương mại. Theo ông Vĩnh, việc giảm phát đã làm thiệt hại, ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư của dự án và phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Ước tính sơ bộ đến ngày 30.6, 10 dự án phải thực hiện giảm phát khoảng 23,2 triệu kWh sản lượng điện, với tổng số tiền thiệt hại đối với các chủ đầu tư khoảng 50 tỉ đồng. Nếu tình hình cứ tiếp tục giảm phát, ước tính 6 tháng cuối năm 2019 sẽ giảm phát lên đến 224 triệu kWh (tương đương thiệt hại khoảng 480 tỉ đồng). Việc này đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư vì vi phạm cam kết tiến độ trả lãi cho ngân hàng.

10 dự án điện mặt trời giảm phát, thiệt hại gần 500 tỉ đồng - ảnh 2

Để giải quyết tình trạng giảm phát và hạn chế thiệt hại cho các nhà đầu tư, ông Vĩnh cho biết địa phương đã có văn bản báo cáo TTCP và Bộ Công thương có văn bản kiến nghị : Thống nhất cơ chế đầu tư Dự án nhà máy ĐMT kết hợp hạ tầng truyền tải trạm biến áp 500 kV Thuận Nam và đường dây đấu nối do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Trung Nam đề xuất; khi hoàn thành dự án sẽ bàn giao công trình hạ tầng này cho EVN quản lý, vận hành mà không yêu cầu hoàn trả kinh phí đầu tư.

Về kiến nghị cơ chế cho doanh nghiệp đầu tư Dự án nhà máy ĐMT kết hợp hạ tầng truyền tải trạm biến áp 500 kV Thuận Nam, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng đặt câu hỏi : Trong khi chúng ta không có kinh phí đầu tư thì tư nhân sẵn sàng vay vốn đầu tư công trình đường dây dài 27 km và trạm biến áp 500 kV mà từ chối thì có khôn ngoan không? Phó Thủ tướng đề nghị các bộ ngành liên quan tổng hợp ý kiến, bổ sung quy hoạch… trình TTCP xem xét phê duyệt.

Lo thiếu điện, đề nghị quy hoạch thêm 6GW điện mặt trời và 12GW điện gió

Để tính toán cân đối cung cầu điện giai đoạn đến 2025, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) đã đưa ra các giả thiết về: công suất điện gió – điện mặt trời, lượng điện nhập khẩu từ Lào, giới hạn truền tải liên kết Bắc – Trung – Nam và tiến độ các dự án nguồn điện.

Cụ thể, về công suất điện gió, Viện Năng lượng dự kiến năm 2019, công suất điện gió là 490 MW, năm 2020 là 1.010 MW, năm 2021 là 2.730 MW, năm 2022 là 3.630 MW, năm 2023 – 2025 là 4.830 MW.

Công suất điện mặt trời dự kiến năm 2019 là 4.790 MW, năm 2020 là 6.670 MW, năm 2021 là 8.050 MW, năm 2023 là 9.250 MW, năm 2024 là 10.000 MW và năm 2025 là 10.500 MW.

Từ năm 2022, Viện Năng lượng dự kiến Việt Nam sẽ mua điện từ các nhà máy điện của Lào (ngoài Quy hoạch 7 điều chỉnh). Tới năm 2025, tổng công suất đặt mua điện từ Lào gồm cả các nhà máy hiện trạng sẽ đạt 3.000 MW.

Về truyền tải liên kết Bắc – Trung – Nam, giới hạn truyền tải Bắc – Trung đạt 2.200 MW, giới hạn truyền tải Trung – Nam đạt 4.200 MW. Từ năm 2020 khi xây dựng xong ĐZ 500 kV Vũng Áng – Dốc Sỏi – PleiKu thì năng lực truyền tải trên tuyến Bắc – Trung nâng lên 4.200 MW. Khi ĐZ 500 kV Krong Buk – Tây Ninh đi vào vận hành thì năng lực truyền tải Trung – Nam tăng lên 6.000 MW.

Dựa trên các nguồn dự kiến này, với tình trạng hàng loạt dự án điện chậm tiến độ, Viện Năng lượng đã tính toán 2 phương án cân bằng điện năng của hệ thống: phương án 1 (với tần suất nước: năm nước trung bình 50%) và phương án 2 (với tần suất nước: năm nước khô hạn 75%).

Với phương án 1, Viện Năng lượng tính toán cân bằng điện năng của hệ thống sẽ là số âm từ năm 2020 đến năm 2024. Số âm lần lượt là: -264 GWh, -745 GWh, -1442 GWh, -1778 GWh, -115 GWh.

Kết quả này đồng nghĩa với việc đã xuất hiện khả năng thiếu hụt điện năng trong hệ thống điện với sản lượng khoảng 264 triệu kWh vào năm 2020 và gần 1,8 tỷ kWh vào năm 2023.

Các nhà máy điện toàn quốc sẽ vận hành với số giờ Tmax trên 6.500 giờ/năm trong giai đoạn 2020 – 2024, điều này tiềm ẩn nguy cơ sự cố.

Với phương án 2, do khô hạn nên sản lượng thủy điện của phương án 2 thấp hơn phương án 1 khoảng 15 tỷ kWh/năm, vì vậy thiếu hụt điện năng sẽ xảy ra ở tất cả các năm, từ 2019 – 2025.

Giai đoạn thiếu hụt nghiêm trọng nhất tập trung ở giai đoạn 2020 – 2023, với sản lượng thiếu hụt từ 1,5 tỷ kWh  – 5 tỷ kWh. Các năm còn lại thiếu từ 100 triệu kWh – 500 triệu kWh.

Huy động điện mặt trời, điện gió để bù đắp điện năng thiếu hụt

Theo Viện Năng lượng, để đảm bảo cân đối cung cầu điện từ năm 2021, cần sử dụng tối đa các nguồn điện hiện có và tăng cường phát triển các nguồn điện năng lượng tái tạo do có thể thực hiện nhanh, đáp ứng tiến độ vận hành ngày từ năm 2021.

Cụ thể, Viện đề xuất chuyển đổi nhiên liệu cho nhiệt điện Hiệp Phước 375 MW từ sử dụng FO sang sử dụng LNG; xây dựng cơ chế cung cấp LNG cho nhà máy để có thể đưa vào vận hành từ năm 2021 (có thể sử dụng LNG từ kho LNG Hải Linh);

Bổ sung thêm các nguồn điện mặt trời và điện gió; tiếp tục ký hợp đồng mua bán điện để nhập khẩu điện từ Lào phù hợp với biên bản ghi nhớ đã ký kết giữa hai chính phủ.

Về điện mặt trời – điện gió, Viện Năng lượng tính toán rằng: để đảm bảo cân đối cung cầu điện theo phương án 1 (năm nước trung bình 50%) điện gió cần đạt công suất lần lượt là: 2.730 MW (2021), 3.630 MW (2022), 4.830 MW (2023 – 2025); điện mặt trời cần đạt công suất lần lượt là: 9.650 MW (2021), 11.700 MW (2022), 13.850 MW (2023 – 2025).

Theo phương án 2 (năm nước khô hạn 75%), điện gió cần đạt công suất lần lượt là: 4.830 MW (2021), 5.230 MW (2022), 6.030 MW (2023 – 2025); điện mặt trời cần đạt công suất lần lượt là: 11.500 MW (2021), 13.700 MW (2022), 16.250 MW (2023 – 2025).

Kết quả này cho thấy để đảm bảo cân đối cung cầu giai đoạn 2023 – 2025, ngay cả trong trường hợp năm khô hạn, cần bổ sung quy hoạch thêm khoảng 6.000 MW điện mặt trời và 12.000 MW điện gió vào vận hành trong giai đoạn 2021 – 2023 so với số lượng đã được bổ sung quy hoạch.

Trong đó, nguồn điện gió và điện mặt trời bổ sung quy hoạch thêm đều lựa chọn các dự án nằm tại hệ thống điện miền Nam, gần trung tâm phụ tải thì mới có thể đưa vào vận hành kịp tiến độ 2021 – 2023.

“Để có thể tích hợp khối lượng lớn nguồn điện gió và mặt trời như trên, các nguồn điện gió và điện mặt trời bổ sung mới cần nằm ở trung tâm phụ tải miền Nam, giảm nhu cầu đầu tư lưới điện truyền tải. Ngoài ra, cần sớm đưa vào vận hành thủy điện tích năng Bác Ái theo đúng tiến độ trong Quy hoạch điện 7 điều chỉnh, đồng thời bổ sung nguồn pin tích năng ngay từ các năm 2022- 2023 tại khu vực miền Nam”, Viện Năng lượng cho hay.

EVN tổ chức họp với nhà đầu tư năng lượng tái tạo khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận

Hôm nay 3/7, EVN sẽ tổ chức cuộc họp với các Lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, đại diện Cục điện lực và Năng lượng tái tạo, Cục Điều tiết Điện lực, Chủ đầu tư các nhà máy điện mặt trời, nhà máy điện gió tại Bình Thuận và Ninh Thuận để xem xét tình hình đầu nối, khó khăn trong công tác vận hành và đặc biệt là khả năng giải phóng công suất cho các nhà máy điện mặt trời.

Mốc 1/7/2019 để đưa ra mức giá mới cho điện mặt trời đã được biết từ cách đây 2 năm, khi Quyết định 11/2017/QĐ-TTg được ban hành vào tháng 4/2017. Tại Quyết định này, mức giá 9,35 UScent/kWh được công bố sẽ áp dụng đến hết ngày 30/6/2019.

Được biết, Bộ Công thương đã vài lần đưa ra dự thảo giá điện mặt trời áp dụng từ ngày 1/7/2019 để các bên góp ý kiến, nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về Chính phủ, tương tự Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg trước đây.

Bên cạnh đó, để xây dựng chính sách giá cho điện mặt trời sau ngày 30/6/2019 và về lâu dài, Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Năng lượng tái tạo và Hiệu quả năng lượng” đã được thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển của Đức (GIZ) và Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương).

Ông Nguyễn Văn Thành, Phó cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cho hay, Cục đã đặt hàng tính toán và có tới 81 kịch bản liên quan đến giá cho điện mặt trời nhằm có một cách nhìn khách quan.

Từ các nghiên cứu với sự tư vấn của các chuyên gia quốc tế, Bộ Công thương đã đưa ra 4 vùng bức xạ với các mức giá tương ứng để phát triển tiềm năng điện mặt trời. Dẫu vậy, ngày 7/6/2019, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã yêu cầu Bộ Công thương nghiên cứu thêm phương án chia 2 vùng, thay vì 4 vùng. Theo phương án chia 2 vùng, 6 tỉnh gồm Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Phú Yên, Gia Lai, Khánh Hoà sẽ vào cùng 1 vùng và vùng 2 là tất cả các tỉnh còn lại.

Việc chia 2 vùng dù có ưu điểm là không có nhiều mức giá và không phải hỗ trợ cao hơn cho các vùng có tiềm năng bức xạ thấp, nhưng nhược điểm là không đủ khuyến khích các nhà đầu tư làm điện mặt trời ở miền Bắc và miền Trung, khó đạt được mục tiêu phát triển 20.000 MW điện mặt trời tới năm 2030 và càng khó khăn trong truyền tải do điện mặt trời tập trung lớn ở một vùng. Bởi vậy, phương án cuối cùng được Bộ Công thương trình lên Chính phủ vẫn là bảo lưu quan điểm chia thành 4 vùng.

Tuy nhiên, cũng có những ý kiến tán thành việc chia thành 2 vùng mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là một ví dụ.

“Ít hôm tới, Chính phủ sẽ có cuộc họp để kết luận về giá điện mặt trời áp dụng sau ngày 30/6/2019”, nguồn tin của Báo Đầu tư cho biết.

Việc chậm trễ có giá điện mặt trời mới đã khiến các nhà đầu tư vào năng lượng tái tạo tỏ ra hụt hẫng. Ông Nguyễn Bình, đến từ một quỹ chuyên về năng lượng tái tạo của Đức và Australia có văn phòng tại TP.HCM cho hay, nhiều quỹ đầu tư sốt ruột khi giá điện mặt trời mới chưa được ban hành.

“Nhiều quỹ đầu tư nước ngoài thấy không yên tâm trong việc đầu tư vào năng lượng mặt trời với thực tế hiện nay. Thậm chí, một số quỹ đến từ Đức và Thụy Sỹ đã rút lui. Nguyên nhân chủ yếu là họ lo lắng về sự bảo đảm trong hiệu quả đầu tư cũng như sự ổn định của chính sách”, ông Bình nói.

Ông Bình cho biết thêm, các quỹ đầu tư đã xác định giá theo 4 vùng, nhưng ngay cả vậy cũng không có gì đảm bảo là giá này sẽ được công nhận và kéo dài trong bao lâu. Nhiều quỹ cho biết, họ sẽ chờ luôn cả Quy hoạch Phát triển điện VIII, bởi lo lắng về việc thực hiện quy hoạch nếu không có văn bản hướng dẫn rõ ràng.

Giảm 65% công suất

Hiện đã có 81 dự án điện mặt trời với công suất thiết kế 4.464 MW hoàn tất các thí nghiệm kiểm định trước ngày 30/6/2019, điều kiện tiên quyết để được áp dụng giá điện 9,35 UScent/kWh trong thời gian 20 năm. Các dự án điện mặt trời đã đi vào hoạt động liên tiếp từ tháng 4/2019 trở lại đây đã giải quyết phần nào cho hoạt động cung cấp điện khi nắng nóng dâng cao trong tháng 6.

Ghi nhận của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) cho thấy, công suất phát điện của các nhà máy điện mặt trời cao nhất trong ngày thường rơi vào tầm 14g và đạt 3.200 MW. Tuy nhiên, đỉnh công suất này lại không trùng với cao điểm sáng, từ 9-11g hàng ngày và sau 18g là không thể đóng góp được gì.

Dẫu vậy, câu chuyện đang được các nhà đầu tư lo lắng là lưới truyền tải không theo kịp sự có mặt của các dự án điện mặt trời, khiến nhiều dự án điện được yêu cầu giảm công suất phát, có thể tới 65%.

Đáng nói là, do mối lợi 9,35 UScent/kWh trong 20 năm, nhiều chủ đầu tư mặt trời đã chấp nhận bổ sung điều khoản phụ về sa thải phụ tải khi quá tải lưới khi ký hợp đồng mua bán điện.

Việc triển khai làm lưới nhanh để giải tỏa công suất điện mặt trời cũng được cho là không dễ khi giá đền bù đất làm cột điện đang được đẩy lên rất cao. “Có chủ đất đòi giá mỗi m2 trụ điện là 50 triệu đồng và 70 m2 cho 2 cột trên đất của họ có giá khoảng 3,5 tỷ đồng, khiến chủ đầu tư đứng hình”, một người làm thực tế dự án điện mặt trời cho hay.

Đó là chưa kể, nếu các đường dây 100 kV này chưa có tên trong Quy hoạch Điện VII điều chỉnh hiện nay, thì việc xin bổ sung quy hoạch còn nhiều gian nan. Mặt khác, do các nhà máy điện mặt trời tập trung lớn tại Ninh Thuận, Bình Thuận là khu vực tiêu thụ điện thấp, cần phải truyền tải vào Nam hay ra Bắc, nên có thể phải cấp 220 kV hay 500 kV mới giải tỏa được trọn vẹn, do đó sẽ cần cả tiền và thời gian để triển khai.

Bị ép giảm công suất phát điện : Ông chủ hai nhà máy điện gió Bình Thuận kêu cứu

Chủ tịch Hiệp hội Điện gió tỉnh Bình Thuận đã gửi kiến nghị lên Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam về việc bị cắt giảm công suất khi đường dây quá tải, trái với thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán điện (PPA) được ký giữa các dự án này với ngành điện trước đó.

“Nếu các dự án điện gió trên địa bàn Bình Thuận tiếp tục bị cắt giảm công suất như vừa qua thì chủ đầu tư sẽ kiến nghị lên các cấp cao hơn để làm rõ trách nhiệm và đòi bồi thường cho những thiệt hại này”, ông Bùi Vạn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió Bình Thuận cho hay.

Nguyên nhân của tình trạng này, theo phân tích của ông Thịnh là bởi việc cho phép xây dựng các dự án điện mặt trời ồ ạt, không tính đồng bộ giữa triển khai dự án nguồn và lưới truyền tải nên đã, đang và sẽ gây quá tải nghiêm trọng cho lưới điện khu vực và thiệt hại cho các chủ đầu tư.

Cụ thể, đường dây 110 kV Phan Rí – Ninh Phước có công suất chỉ khoảng trên 100 MW và đã có 2 dự án điện gió là Phú Lạc 1 có quy mô 24 MW và Bình Thạnh 1 có quy mô 30 MW đã đấu nối từ trước. Tuy nhiên, trong vài tháng qua đã có trên 10 dự án điện mặt trời được đấu nối vào đường dây này với tổng công suất thiết kế khoảng 400 MW. Nghĩa là vượt xa khả năng tải điện của đường dây hiện hữu.

Bởi vậy, cơ quan điều độ hệ thống điện đã yêu cầu các dự án trên lưới giảm tải vào ban ngày gần như tất cả các ngày trong tháng 6/2019. Mức độ giảm tải cũng rất lớn với 38% đến 65% công suất thiết kể và giảm đều rất cả dự án trên lưới, bất kể là dự án điện gió hay điện mặt trời, bất kể là hòa lưới điện trước hay sau.

Đáng nói là Dự án điện gió Phú Lạc 1 và Bình Thạnh 1 khi ký Hợp đồng mua bán điện với ngành điện không hề có điều khoản tự cắt giảm công suất khi đường dây quá tải. Điều này khác với nhiều dự án điện mặt trời có phụ lục nhắm mắt chấp nhận giảm tải để được ký hợp đồng mua bán điện với ngành điện, kịp đưa nhà máy hoạt động trước ngày 30/6/2019, để được hưởng lợi mức giá điện cao ngất ngưởng là 9,35 Uscent/kWh trong suất 20 năm vận hành.

Bởi vậy, ông Thịnh cũng đề nghị Bộ Công thương và EVN không tiếp tục cắt giảm công suất 2 dự án điện gió là Phú Lạc 1 và Bình Thạnh 1.

“Việc dự án điện mặt trời được cấp phép ồ ạt, trong khi quy hoạch lưới điện và nhất là thi công lưới điện không đồng bộ là thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, không phải trách nhiệm của nhà đầu tư”, ông Thịnh nói.

Như vậy, sự thiếu đồng bộ trong việc cho phép triển khai các dự án điện mặt trời một cách ồ ạt thời gian qua tại một số địa phương, trong khi lại không quy hoạch lưới điện để giải tỏa công suất cho các dự án này từ các cơ quan hữu trách, cụ thể ở đây là Bộ Công thương đang gây lãng phí lớn cho xã hội, làm méo mó thị trường năng lượng tái tạo mà Việt Nam có nhiều tiềm năng và đang kêu gọi đầu tư khai thác.

Năng lượng tái tạo: tiềm năng lớn, thiếu quy hoạch

[Samtrix.vn] – Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo (NLTT). Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng nguồn NLTT đang là một thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách.

Tiềm năng lớn

Đánh giá về tiềm năng phát triển NLTT tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, số giờ nắng bình quân trong năm từ 2.500-3.000 giờ với nhiệt độ bình quân năm trên 210C. Ngoài ra, Việt Nam có tiềm năng lớn về các dạng NLTT khác như gió, sinh khối… Đây là những nguồn năng lượng sạch, quý giá, cần được khai thác một cách hợp lý, hiệu quả.

Riêng về tiềm năng điện gió, theo ông Nguyễn Văn Vy, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, với công nghệ hiện đại, chỉ cần tốc độ gió từ 5m/s trở lên, turbine đã có thể phát điện. Ước tính, điện gió trên đất liền của Việt Nam có thể tạo ra khoảng 40-50 nghìn MW, nếu cộng thêm tiềm năng điện gió từ ngoài khơi, Việt Nam có thể phát triển trên 100 nghìn MW.

Còn với năng lượng mặt trời, Việt Nam có thể lắp đặt các tấm pin điện mặt trời ở nhiều vùng khác nhau như trên bờ biển, hồ nước, đồng bằng, rừng núi, trên mái nhà… Nếu tính trung bình, cứ khoảng 1ha thu được 1MW điện mặt trời, Việt Nam có thể sản xuất ra hàng chục nghìn MW công suất từ bức xạ năng lượng mặt trời.

Thách thức không nhỏ

Ông Ngô Sơn Hải – Phó tổng giám đốc EVN cho rằng, để phát triển điện năng một cách hiệu quả, bền vững, EVN hoàn toàn ủng hộ chủ trương đẩy mạnh phát triển NLTT, phù hợp với quy hoạch. Ưu tiên phát triển NLTT sẽ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ nguồn tài nguyên năng lượng, giảm tác động tiêu cực đến môi trường trong sản xuất điện. Tuy nhiên, khi có sự tham gia của NLTT, thiết kế hệ thống truyền tải và phân phối điện cũng sẽ phải điều chỉnh so với thiết kế truyền thống.

Tại Việt Nam, do nhu cầu sử dụng điện rất lớn, việc đẩy nhanh phát triển NLTT cũng cần phải lưu ý đến một số vấn đề như: Sự không ổn định của công suất phát vì phụ thuộc vào thời tiết (tốc độ gió, bức xạ mặt trời…). Để bảo đảm hệ thống điện vận hành ổn định, cần phải tính đến công suất dự phòng, bù đắp lượng công suất thiếu hụt khi nguồn NLTT không phát điện được. Các nguồn điện gió và điện mặt trời không có khả năng điều chỉnh điện áp nếu như không có các quy định chặt chẽ bắt buộc phải đầu tư các thiết bị bảo vệ trước khi nối lưới.

Cũng theo ông Ngô Sơn Hải, hiện nay, các nguồn điện đang vận hành theo cơ chế thị trường phát điện cạnh tranh. Dự kiến năm 2019, sẽ hình thành thị trường bán buôn điện cạnh trạnh. Tuy nhiên, vẫn chưa có cơ chế phù hợp cho NLTT hoạt động trong thị trường điện.

Để khắc phục những bất cập đó, EVN đề nghị các cơ quan chức năng sớm phê duyệt các quy hoạch phát triển nguồn điện NLTT cấp tỉnh, cấp quốc gia. Các dự án NLTT khi xem xét cần bảo đảm sự phát triển đồng bộ giữa nguồn và lưới điện, bảo đảm khả năng vận hành an toàn, kinh tế của hệ thống điện và hiệu quả đầu tư chung của xã hội…

Ông Nguyễn Văn Vy kiến nghị: Nhà nước cần xây dựng chính sách đồng bộ, ổn định, lâu dài cho phát triển NLTT, tăng độ tin cậy cho các nhà đầu tư; đồng thời xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong quá trình thiết kế, đầu tư xây dựng và quản lý khai thác vận hành các công trình nguồn điện từ NLTT, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho lưới điện đồng bộ với các nguồn điện sử dụng NLTT và các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các công trình, thiết bị khác liên quan đến NLTT, áp dụng thống nhất trong toàn quốc.

Cần lắm cuộc cách mạng năng lượng tái tạo

CUỘC CÁCH MẠNG NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TRONG THẾ KỶ 21

Đặng Quốc Toản (*)

PHẦN I – KHÁT VỌNG – TẦM NHÌN – CHIẾN LƯỢC

 Thế kỷ 20 là thế kỷ của cuộc cách mạng công nghiệp tiêu tốn một khối lượng năng lượng hóa thạch khổng lồ và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo của nhân loại, làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, gây ra hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên, gây ra biến đổi khí hậu và các thảm họa từ thiên nhiên. Chính vì vậy nhân loại thấy được cần phải có một cuộc cách mạng thay đổi về tư duy và nhận thức trong phát triển để bảo vệ trái đất, chính là bảo vệ môi trường sống của nhân loại và để tồn tại, phát triển trong khi những nguồn năng lượng hóa thạch sẽ cạn kiệt trong thời gian không xa vào giữa và cuối thế kỷ 21 này, cuộc cách mạng tất yếu đó là cuộc cách mạng về năng lượng tái tạo, nhiên liệu mới, tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Thời đại ngày nay là thời đại của năng lượng sạch “ A TIME FOR CLEAN ENERGY”. Cuộc cánh mạng về năng lượng tái tạo, năng lượng nhiên liệu mới đang tăng trưởng vượt bậc trong những năm qua sẽ đóng góp cho tăng trưởng và phát triển bền vững, bảo vệ môi trường  trái đất xanh, sạch, làm thay đổi bộ mặt của thế giới và mang lại sự thịnh vượng, hạnh phúc cho nhân loại trong thế kỷ 21.

Việt Nam có vị trí địa lý nằm ở trung tâm của Đông Nam Châu Á với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế tại Biển Đông hơn 1 triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền và là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng, gió, mưa rất nhiều có điều kiện tự nhiên đặc biệt tốt để phát triển về năng lượng tái tạo. Với tiềm năng to lớn như vậy việc phát triển các công viên khoa học công nghệ cao và kết nối với các công viên khoa học trong khu vực Châu Á và trên thế giới là rất cần thiết, để phục vụ cho việc nghiên cứu, sáng tạo, phát triển, chuyển giao công nghệ cho việc xây dựng nền móng và nội địa hóa cho ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, nhiên liệu mới phục vụ cho tăng trưởng và phát triển đất nước của Việt Nam với dân số gần 100 triệu người vào năm 2015 và gần 600 triệu người của cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN sẽ hình thành một thị trường chung có GDP hơn 2000 tỷ đô la đã đến rất gần. Với những bài học thành công của các nước phát triển đi trước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore… thì đây chính là một cơ hội và thời cơ tốt nhất cho tất cả các nhà đầu tư và các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng hợp tác đầu tư nghiên cứu phát triển sáng tạo, phục vụ cho thị trường to lớn đang tăng trưởng cao của các nước Đông Nam Á, đang hướng tới một nền kinh tế tăng trưởng xanh, bền vững và bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp để phát triển kinh tế, du lịch với những nền văn hóa phong phú đậm đà bản sắc Á Đông là điểm đến thân thiện, với thiên nhiên tuyệt đẹp và khí hậu ấm áp quanh năm là thiên đường nghỉ dưỡng, và khám phá về văn hóa, lịch sử, ẩm thực của thế giới đặc biệt trong những mùa đông băng giá của châu âu, và bắc Mỹ.

Việt Nam được các tổ chức năng lượng quốc tế và ngân hàng thế giới đánh giá là nước có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo, năng lượng gió với công suất dự báo hơn 513000 MW đứng đầu Đông Nam Á, với tốc độ gió tốt từ 6m/s trở lên, hàng chục dự án điện gió, điện mặt trời dọc theo bờ biển 3260km và các hải đảo của Việt Nam đã và đang được cấp phép đầu tư, đang triển khai, vận hành với tổng số vốn đăng ký tới hàng trăm triệu đôla, được các nước như Mỹ, châu Âu hỗ trợ về tài chính. Năng lượng mặt trời với độ bức xạ từ 4-6KW/h đang được các doanh nghiệp tự đầu tư cho nghiên cứu và sản xuất phục vụ cho miền núi, hải đảo, những nơi chưa có điện, cho ngư dân đánh cá, bảo vệ chủ quyền đất nước, cho quân đội với những quần đảo lớn ở biển đông như Trường Sa, Hoàng Sa cùng với hơn 3000 hòn đảo khác, và hơn 1 triệu hộ dân vùng biên giới, miền núi, nông thôn chưa có điện. Năng lượng thủy triều, sóng biển với tiềm năng rất to lớn để sản xuất điện sẽ phục vụ trực tiếp cho hàng triệu hộ dân lưu vực đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải. Nhiên liệu sinh học với tiềm năng to lớn về nguồn nguyên liệu để sản xuất như sắn hơn 10 triệu tấn/năm đứng thứ 5 thế giới, từ cỏ voi, cây Jatropha, phế phẩm nông nghiệp như bã mía, vỏ các loại hạt cà phê, cao su.. với công suất sản phẩm dự báo nhu cầu sử dụng nhiên liệu sinh học đến 2 triệu tấn ethanol, biodiesel E5-E10 vào năm 2025 và hiện tại đã có 6 nhà máy lớn với tổng công suất gần 500 triệu lít/năm đã xây dựng xong còn chờ chính sách xăng sinh học. Tiềm năng về khí sinh học, các phế phẩm từ nông nghiệp biomass gần 100 triệu tấn của một đất nước nông nghiệp sản xuất và xuất khẩu gạo, cà phê hàng đầu thế giới.

Việt Nam đứng trong số các nước hàng đầu có tiềm năng về năng lượng tái tạo ở Đông Nam Châu Á. Trong khi đó Việt Nam chưa đầu tư cho một khu công nghệ nào dành cho việc phát triển ngành công nghiệp năng lượng sạch có tiềm năng vô cùng to lớn này của đất nước, chính vì vậy sự ra đời của khu công viên khoa học công nghệ của thành phố HCM dành cho việc nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ phục vụ cho ngành năng lượng tái tạo, năng lượng mới là hoàn toàn đúng đắn và có tầm nhìn chiến lược, tuy có muộn so với các nước nhưng đây sẽ là bước khởi đầu cho sự đột phá của một ngành công nghiệp mới trong thế kỷ 21 sẽ mang lại lợi ích to lớn cho đất nước, làm tấm gương đi tiên phong cho cả nước học tập, đây sẽ là nơi tập trung trí tuệ của các nhà khoa học, trí thức và các chuyên gia trong và ngoài nước, các doanh nghiệp hàng đầu của ngành năng lượng tái tạo, năng lượng nhiên liệu mới, các trung tâm nghiên cứu, trường đại học với đội ngũ trí thức trẻ tương lai được đào tạo trong và ngoài nước là trụ cột để thành công trong thời đại nền kinh tế tri thức. Khu công viên khoa học năng lượng tái tạo sẽ là nơi tập trung mọi nguồn lực trong và ngoài nước để cùng tham gia đầu tư, nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo, hội thảo, triển lãm, trình diễn và ứng dụng cho các dự án của thành phố và của cả nước về ứng dụng, sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng mới, nhiên liệu sinh học, phát huy được đúng với tiềm năng to lớn  hàng đầu Đông Nam Á về năng lượng tái tạo, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, nhiên liệu sinh học của Việt Nam.

 

Để có được những thành công như mong muốn với chiến lược và tầm nhìn dài hạn cho các thế hệ tương lai của đất nước và xu hướng thế giới về sự bùng nổ của cuộc cách mạng năng lượng tái tạo, tăng trưởng bền vững và nền kinh tế tri thức trong thế kỷ 21 thì việc hợp tác quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ để rút ngắn thời gian cho sự đột phá là vô cùng quan trọng. Việt Nam phải có chính sách đặc biệt để thu hút và đãi ngộ nhân tài là yếu tố quyết định đến sự thành công của khu công viện khoa học của thành phố. Thành phố HCM cần học tập các nước đi trước đã rất thành công như CHLB Đức, Nhật Bản, Thailand, Ấn Độ. Chỉ riêng năm 2007 Singapore đã thu hút được hai dự án lớn nhất thế giới về nhà máy sản xuất pin NLMT $5,3 tỷ với REC Norway và nhà máy Biodiesel với Nestle oil $810 triệu, và một công viện năng lượng tái tạo hơn $1 tỷ vừa hoàn thành năm 2012 để cung cấp năng lượng sạch và phục vụ du lịch. Trong khi tiềm năng của miền nam Việt Nam lớn gấp hàng chục lần Singapore vẫn chưa được đầu tư để phát triển. Thành phố Hồ Chí Minh cần đầu tư mạnh các nguồn lực cho nghiên cứu phát triển và dành quĩ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các trí thức Việt Kiều sẽ về làm việc, đầu tư và sinh sống gần với khu công viên khoa học bên bờ sông Sài Gòn với điều kiện tốt nhất và ưu đãi nhất để họ có một môi trường lý tưởng cho việc phát huy hết tư duy sáng tạo và đóng góp trí tuệ, các nguồn lực xây dựng thành phố và đất nước ta giầu mạnh, hùng cường hướng ra biển lớn trong thế kỷ của đại dương.

Hội nghị Power Industry Vietnam 2012 do ITE tổ chức tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của NLTT đóng góp trong tổng sơ đồ năng lượng của Việt Nam.

PHẦN II – TRỞ NGẠI – GIẢI PHÁP – HÀNH ĐỘNG

 

Với như cầu tăng trưởng cao của Việt Nam và nhu cầu về năng lượng to lớn trong giai đoạn tới từ 2012-2020 Việt Nam mỗi năm cần bổ sung thêm 4000MW và sẽ thiếu hụt nguồn cung cấp năng lượng ngay từ năm 2013 như EVN vừa dự báo có thể sẽ phải bù lỗ đến 7000 tỷ đồng phát điện bằng diesel do thiếu nước các hồ thủy điện, trong khi điện diesel giá thành rất cao khoảng $30cent/kwh thì giải pháp điện gió là khả thi nhất cho những năm tới vì chỉ cần chính phủ điều chỉnh tăng giá mua điện gió từ $7,8 Cent hiện nay lên đến $12 cent và nhanh chóng đầu tư hệ thống truyền tải điện là lập tức các nhà đầu tư tư nhân sẽ bỏ tiền để đầu tư các nhà máy điện gió mà nhà nước sẽ không cần phải đầu tư, vừa tiết kiệm vốn ngân sách của nhà nước vừa giảm chi phí hơn một nửa so với phát điện bằng diesel, vừa cung cấp được một nguồn điện sạch, giảm thiểu phát điện bằng diesel, và điện nhập khẩu từ Trung Quốc, thúc đẩy mạnh mẽ nội địa hóa công nghệ điện gió để giảm giá và xuất khẩu thiết bị, tạo ra rất nhiều việc làm và những ngành công nghiệp phụ trợ cho điện gió, đóng góp tới trên 5% hơn 3000MW trong tổng nhu cầu năng lượng đến 2020, đưa Việt Nam vào các nước dẫn đầu Châu Á về điện gió. Các ngân hàng quốc tế như WB, ADB, US Eximbank, KFW.. đang sẵn sàng cho các dự án điện gió có hiệu quả vay vốn đầu tư, chính phủ cần nhanh chóng ban hành chính sách hỗ trợ mạnh mẽ cho điện gió để thu hút nguồn vốn này.

Một nguồn điện lớn nữa đang rất lãng phí do chính sách mua điện của nhà nước quá thấp, quá chậm là điện Biomass, Biogas và điện từ rác thải sinh hoạt hiện được EVN mua với giá $4cent/kwh do vậy 41 nhà máy mía đường, và hàng chục vạn trang trại lớn nhỏ với gần 100 triệu tấn phân gia súc thải thẳng ra môi trường vì không dám đầu tư phát điện do bị lỗ nặng, trong khi một đất nước nông nghiệp như Việt Nam với gần 100 triệu tấn rơm, rạ, trấu, vỏ các loại hạt, phế thải từ lâm nghiệp, các doanh nghiệp đều không dám đầu tư nhà máy điện Biomass vì chính sách giá điệu mua quá thấp, trong khi điện nhập khẩu từ Trung Quốc tăng từ 200 triệu Kwh năm 2005 lên hơn 4 tỷ KWh năm 2012 với giá tăng cao từ 5-$7cent và bị phạt do dùng ít, dùng nhiều hơn, và tổn thất truyền tải đã đưa giá điện này cao hơn nhiều. Do vậy việc giảm và dừng phụ thuộc vào điện nhập khẩu của Trung Quốc cần làm ngay, để phát huy tinh thần tự lực và xây dựng biểu giá FIT tăng giá ngay cho điện Biomass, Biogas, rác thải như điện gió là việc làm vô cùng cấp bách để tiềm năng hơn 1000MW của loại điện này được khai thác ngay, sẽ bảo vệ môi trường thiết  thực nhất vì hàng chục vạn trang trại, làng nghề, các nhà máy sẽ không xả thải khí biogas lên trời, và đầu tư hệ thống phát điện từ bã mía, trấu, biogas, rác thải…sản xuất điện cung cấp tại chỗ cho ngay cho các trung tâm phụ tải của đất nước, giảm tải và tổn thất truyền tải điện cho lưới điện, tạo ra hàng vạn việc làm cho xã hội, bảo vệ môi trường đất, nước, không khí đang rất ô nhiễm do chất thải này và góp phần giảm ngay nạn thất nghiệp như hiện nay gây bất ổn xã hội.

Nhà nước cần xây dựng sớm và ban hành bộ luật Năng Lượng Tái Tạo với sự đóng góp ý kiến của các hiệp hội năng lượng, các tổ chức trong nước và quốc tế, các chuyên gia, các nhà khoa học để có luật hòa lưới điện NLTT và chính sách hỗ trợ rõ ràng cho NLTT, nhanh chóng mở cửa cho ngành năng lượng tái tạo có tiềm năng to lớn này bùng nổ với sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế và toàn dân cùng sản xuất điện để tự đảm bảo về năng lượng cho mình giảm tải lưới điện cho nhà nước và luôn luôn chủ động trong mọi sự biến đổi của xã hội về thiên tai, bão lụt, thảm họa. Nhà nước sử dụng những nguồn quĩ cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững của các tổ chức quốc tế cho Việt Nam vay để cho các hộ dân vay lại với lãi suất ưu đãi và không lãi trong 5-10 năm như nước châu âu đang làm, nhưng một mái nhà ở Việt Nam chỉ cần đầu tư bằng 1/20 so với họ khoảng từ 2000-4000USD. Các quĩ này sẽ kích thích các hộ dân các thành phố tự đầu tư điện mặt trời hòa lưới, dự phòng giảm tải ngay lưới điện và chấm dứt sử dụng máy phát điện diesel ô nhiễm, chi phí cao. Trong khi nhà nước chưa kịp ban hành được biểu giá FIT hỗ trợ tiền mua điện mặt trời của dân và các tổ chức phát lên lưới, như các nước, thì giải pháp tính giá điện cho các hộ sản xuất điện mặt trời với giá cao điểm nhất, sử dụng hai đồng hồ đếm điện và có thể cho các hộ phát điện mặt trời hòa lưới sử dụng ban ngày dư thừa gửi lên lưới rồi buổi tối được lấy về sử dụng đúng bằng số điện đã gửi đó mà không phải trả tiền. Chính sách này sẽ làm bùng nổ ngay về điện hòa lưới tại các thành phố, và giảm tải, tiết kiệm cho nhà nước hàng tỷ đola đầu tư các nhà máy điện và đường dây tải điện, tạo ý thức tiết kiệm và sự chủ động về năng lượng của người dân.

Với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ của cả nước, hơn một triệu hộ dân vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, nông thôn, miền núi còn thiếu điện thì giải pháp sử dụng điện mặt trời, điện gió, điện biomass, biogas tại chỗ, để thay thế cho máy phát điện diesel, và giảm nhiều lần chi phí đầu tư so với kéo đường dây điện tới những nơi biên giới, miền núi, hải đảo vừa không khả thi, tốn kém và mất hàng chục năm chờ đợi. Việc triển khai các dự án điện mặt trời, điện gió, thuỷ điện nhỏ cho miền núi, hải đảo thực hiện rất nhanh và giảm ngay tiền đầu tư của ngân sách cho việc kéo đường dây điện tới những vùng này, ngoài ra cả một giải pháp tổng thể rất sáng tạo về xây dựng những hồ chứa nước mưa trên núi, núi đá theo bậc thang như Israel đã từng làm để giữ nước, cho mùa khô và chăn nuôi, trồng trọt, sử dụng túi đựng nước mưa cho niền núi, hải đảo và các thành phố để giữ nước chống ngập lụt, chống nóng, chống thiếu nước, chống hút nước ngầm, giảm chi phí đầu tư so với nước ngoài đến 50 lần, tiết kiệm hàng tỷ khối nước mưa, hàng trăm triệu đola mỗi năm, nâng cao được ý thức tiết kiệm, kiến thức về sử dụng nắng, mưa, gió an toàn, tiết kiệm, tạo ra rất nhiều việc làm. Hàng triệu bộ đèn LED hiệu suất cao, đèn năng lượng mặt trời tiết kiệm năng lượng sẽ thắp sáng cho ngư dân, biển đảo, biên cương của đất nước, được thay thế cho đèn đường thủy ngân độc hại lãng phí điện ở các thành phố và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác để tiết kiệm điện, các thiết bị tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm điện, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, xử lý môi trường nước, không khí, sử dụng nước mưa, nước thải qua xử lý…

Về nhiên liệu sinh học, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới có nguồn nguyên liệu dư thừa cho xuất khẩu thô là sắn lát, với sản lượng sắn tươi khoảng 10 triệu tấn/năm, và xuất khẩu năm 2012 hơn 3 triệu tấn sắn lát khoảng 1 tỷ đola. Tiềm năng to lớn cho sản xuất nhiên liệu sinh học để giảm nhập khẩu xăng, dầu, giảm ô nhiễm môi trường và giảm giá thành xăng sinh học. Nhưng cũng lại do chính sách của Việt Nam đến cuối 2014 mới pha xăng E5, khác với các nước trong khối Asean như Thái Lan, Philippin, Indonesia…họ ban hành chính sách rồi nhập Ethanol về pha xăng sinh học E10-E20, sau đó các nhà đầu tư mới bỏ tiền ra đầu tư nhà máy sản xuất Ethanol, Biodiesel. Các nhà đầu tư của Việt Nam dũng cảm đi tiên phong đầu tư nhà máy để theo kịp các nước Asean vừa ra đời thì đã có nguy cơ phá sản. Trong khi người dân các nước Asean đang hưởng lợi từ xăng sinh học E20-E85 giá rẻ và bảo vệ môi trường các thành phố, và sức khỏe người dân của họ, mặc dù họ đi ôtô chứ không phải hít khói bụi như hơn 30 triệu người lái xe máy ở nước ta, hàng năm bệnh phổi tăng rất cao. Thái Lan là bài học hay nhất khi thu nhập đầu người cao nhưng giá taxi chạy xăng sinh học, LPG, CNG chưa bằng một nửa Việt Nam. Các nhà máy Ethanol ra đời vừa tạo ra thu nhập từ trồng sắn cho hàng vạn hộ gia đình nghèo, vừa giảm xuất khẩu sắn thô, tiết kiện ngoại tệ nhập xăng dầu, tạo ra lợi ích về mọi mặt cho môi trường, cho nền kinh tế, giao thông vận tải, đang rất cần nhà nước tháo gỡ ngay và hỗ trợ vốn. Vì đây là những ngành mới ra đời và cực kỳ quan trọng với đất nước trong lai. 

Cuộc cách mạng về năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học kỷ 21 này sẽ là cuộc cách mạng của thế hệ trẻ, và các thế hệ tương lai của đất nước khi không còn những nguồn năng lượng khác, cuộc cách mạng này sẽ đóng góp cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của Việt Nam, tiết kiệm hàng tỷ đôla cho đất nước mỗi năm, tạo ra hàng triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp, là cánh tay của đất nước trong việc chống lại biến đôi khí hậu, giảm hiệu ứng nhà kính, chống ngập lụt, hạn hạn, và sự nóng lên của các thành phố, tiết kiệm năng lượng khi sử dụng năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học. Thúc đẩy và hỗ trợ mạnh mẽ cho các ngành kinh tế khác phát triển như nông nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, kinh tế biển đảo, bảo đảm về an ninh năng lượng và an ninh quốc phòng cho đất nước, khai thác đúng thế mạnh, lợi thế cạnh tranh, tiềm năng to lớn của đất nước ta và theo kịp xu thế phát triển tăng trưởng xanh, bền vững của thế giới, đưa Việt Nam vào trong số các nước phát  triển xanh sạch và bền vững trên thế giới. Để đạt được điều này chúng ta cần phải có một bộ máy đủ mạnh, đủ tầm, đủ tâm, đủ tài và tập hợp được các chuyên gia, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, để cùng chung sức vì lợi ích chung của tổ quốc là trên hết, để sẵn sàng đảm bảo an ninh năng lượng trong mọi tình huống của đất nước, không bị phụ thuộc, bị động. Xây dựng một đất nước giầu mạnh, xanh sạch,và trong sạch là khát vọng của tuổi trẻ Việt Nam.

(*) CEO- Asiapetro, Thành viên sáng lập hiệp hội Nhiên Liệu Sinh học và Năng Lượng Tái Tạo Việt Nam.

Ủy viên ban chấp hành hiệp hội công nghiệp môi trường miền nam.