Những dự án điện gió “ngàn tỉ” không hoạt động, mòn mỏi chờ “cơ chế”

Từ phản ảnh của Tuổi Trẻ Online về việc “nhà đầu tư điện gió ‘kêu cứu’ Thủ tướng vì nguy cơ phá sản do… chờ cơ chế”, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp chỉ đạo Bộ Công thương “kiểm tra và xử lý ngay”. Nhưng những quy định bất cập vẫn chưa được tháo gỡ đang đẩy nhà đầu tư điện gió tiếp tục rơi vào cảnh bế tắc.

Bốn nhà đầu tư điện gió tại các dự án Nhơn Hội, Nam Bình 1, Cầu Đất và Tân Tấn Nhật liên tiếp gửi kiến nghị tới Chính phủ, bộ ngành liên quan, đề nghị sớm đưa dự án vào vận hành thương mại (COD).

Trái ngược với sự mong đợi của doanh nghiệp, Bộ Công thương đã dẫn ra các quy định hiện hành tại quyết định 39/2018 và thông tư 02 về phát triển dự án điện gió, nhưng vẫn chưa có báo cáo kiến nghị, đề xuất hướng giải quyết cụ thể. Mặc dù các nhà đầu tư đã cho rằng các quy định trên là bất cập và mâu thuẫn.

Trên thực tế, đến nay khi quyết định 39 đã hết hiệu lực, nhưng 7 tháng trôi qua vẫn chưa có một hướng xử lý rõ ràng khiến nguồn năng lượng này bị lãng phí.

Những trụ điện gió đã xây dựng xong…rồi để đó

Điều đáng nói là giữa bối cảnh nguy cơ thiếu điện, đặc biệt ở miền Nam, thì có một nghịch lý là hàng loạt cột điện gió đã hoàn thành, sẵn sàng cung ứng điện để góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, lại rơi vào cảnh… “đắp chiếu”.

Một trong những “địa chỉ” đầu tư sôi động bậc nhất ở Nam Trung Bộ, ngay tại nơi được xem là “mặt tiền” của Khu kinh tế Nhơn Hội, những cột điện gió của dự án điện gió Nhơn Hội đã được lắp đặt hoàn thiện dọc dãy núi Phương Mai, “đứng yên bất động” trong nhiều tháng.

Đứng từ chân cột điện gió, ông Trần Đức Lưu, trưởng phòng quản lý quy hoạch và xây dựng thuộc Ban quản lý Khu kinh tế Nhơn Hội – Bình Định, chia sẻ với Tuổi Trẻ, có không ít nhà đầu tư khi đến đây đã đặt câu hỏi tại sao những cột điện gió kia “bất động” lâu đến vậy, và bày tỏ lo ngại liệu cơ chế, chính sách có gì vướng mắc, bất cập khiến cho dự án chưa thể đi vào vận hành?!

“Nhà đầu tư thường nhìn vào các dự án khác để đánh giá về hiệu quả, xem các cơ chế, chính sách có được kịp thời tháo gỡ hay không. Nhưng rồi những cột điện gió cứ đứng im mãi khiến chúng tôi rất… sốt ruột, bởi tạo ra hình ảnh không tốt cho địa phương, dù chính quyền đã nỗ lực tháo gỡ”, ông Lưu bày tỏ.

Nhưng không chỉ là nỗi sốt ruột, ông Huỳnh Văn Luận , phó tổng giám đốc Công ty cổ phần năng lượng FICO Bình Định – chủ đầu tư của điện gió Nhơn Hội, cho biết dự án có tổng công suất 60 MW (gồm 12 tuabin) được chia làm 2 giai đoạn, đến nay mới chỉ một nửa đi vào vận hành thương mại (COD), khiến nhà đầu tư sống dở chết dở vì thiệt hại mỗi ngày trôi đi lên tới hàng trăm triệu đồng và phải giải quyết các tranh chấp, nợ nhà thầu chưa trả được trong khi ngân hàng rốt ráo thu hồi.

Ông nhớ lại, hồi giữa tháng 10-2021 khi mọi hạng mục đã hoàn thành, chỉ còn khâu cuối là thử nghiệm thì cơn bão áp thấp nhiệt đới kèm mưa lớn đi qua nên không thể thực hiện và dự án “đóng băng” từ đó.

Trong khi nếu có thể kịp vận hành, với 6 trụ tuabin mỗi ngày phát 336.000 kWh điện, tương ứng doanh thu là 650 triệu đồng, không chỉ tạo ra doanh thu, mà còn cung ứng nguồn điện cho địa phương, thu ngân sách mỗi năm gần 19 tỉ đồng.

Cũng trong tình cảnh tương tự, tại dự án điện gió Nam Bình 1 (Đắk Nông) là khung cảnh “đìu hiu” vắng lặng của 9 cột điện gió có tổng công suất 29,7 MW. Ông Lương Duy Nam, giám đốc dự án Công ty cổ phần Nam Bình, cho biết dù đã đóng điện thành công trạm biến áp và hòa lưới toàn bộ nhà máy vào lưới điện quốc gia từ ngày 29-10-2021, nhưng đáng tiếc do thử nghiệm kỹ thuật không đạt vì vận tốc gió thấp, nên nhà máy không được công nhận COD.

Đến nay, dự án “đắp chiếu” để không, doanh thu mỗi tháng dự kiến từ 10 – 15 tỉ đồng là con số 0, công ty vẫn phải thuê hàng chục chuyên gia, kỹ sư để vận hành trạm biến áp, bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ cho các trụ tuabin, trả lãi và gốc vay ngân hàng, quản lý dự án với chi phí hàng chục tỉ đồng.

“Chúng tôi đang phải chi thường xuyên dù không có nguồn thu nào từ dự án và đã phá sản về phương án tài chính, gây lãng phí rất lớn về nguồn lực, ảnh hưởng tâm lý rất lớn.

Doanh nghiệp chỉ biết chờ đợi, dù đã có chỉ đạo từ phía Chính phủ nhưng vẫn không có một hướng đi rõ ràng”, ông Nam mong muốn sớm đi vào vận hành dự án, trước hết ghi nhận sản lượng lên lưới trong khi chờ cơ chế.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Bùi Văn Thịnh, chủ tịch Hiệp hội Điện gió và mặt trời Bình Thuận, cho hay có tới 1/3 dự án điện gió (trên tổng số đã đăng ký) không thể về đích khi quyết định 39/2018 đã hết hiệu lực.

Nhiều tháng nay, cơ quan nhà nước cũng không có cơ chế chuyển tiếp hay định hướng rõ ràng, khiến cho các nhà đầu tư… thất vọng, chán nản.

Trong khi đó, cơ chế giá FIT cũ có thể sẽ không được áp dụng, mà thay bằng cơ chế mới, nhưng cái khó của nhà đầu tư là dự án được tính toán theo cơ chế giá cũ, nên thiệt hại là “vô cùng lớn”. Bởi theo ông Thịnh, đa phần các dự án đều phải vay vốn ngân hàng, phải chịu sức ép trả lãi và gốc nhưng nhiều tháng không có doanh thu nên rất khó khăn.

Ông Thịnh cũng cho rằng, thực tế này gây ra sự lãng phí rất lớn khi những dự án đã gần hoàn thành thì phải “đắp chiếu”, khiến nhà đầu tư tuyệt vọng. Chính sách thì quá ngắn hạn trong khi đầu tư cần có cơ chế dài hơi hơn, khi đằng sau doanh nghiệp là ngân hàng, hệ thống chuỗi cung ứng, người lao động, nguồn lực của cải đang không được đưa vào phát huy hiệu quả kinh tế – xã hội.

Vướng mắc từ các quy định thiếu nhất quán

Theo chủ đầu tư, các quy định tại quyết định, thông tư nêu trên hiện không phù hợp với thực tiễn, thậm chí còn xung đột, thiếu nhất quán với các quy định khác cũng do Bộ Công thương đưa ra. Tình trạng văn bản pháp quy chồng chéo, mâu thuẫn là trái tinh thần pháp luật như Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh tại buổi tiếp xúc cử tri trước kỳ họp Quốc hội: “Phải tiếp tục đổi mới để tránh tình trạng luật khung, luật ống, nhất là tránh việc quy định cứng, chi tiết trong luật, dẫn đến bất cập trong cuộc sống”.

“Đưa vào các quy định cứng, chi tiết trong luật, cài cắm các điều kiện kỹ thuật, điều kiện kinh doanh trong các thông tư, nghị định là rất thực tế. Như với lĩnh vực điện gió, những yêu cầu cứng về công nhận vận hành thương mại liên quan đến thử nghiệm kỹ thuật là ví dụ điển hình, đẩy nhà đầu tư rơi vào rủi ro”, một nhà đầu tư chia sẻ.

Trong trường hợp này, Bộ Công thương dẫn ra các yêu cầu để công nhận COD cho các nhà máy điện gió là phải đáp ứng các điều kiện như thử nghiệm kỹ thuật, có giấy phép hoạt động điện lực… Tuy nhiên, chủ đầu tư các dự án trên cho rằng, quy định trên là bất cập và thiếu nhất quán với những văn bản khác.

Cụ thể, tại quyết định số 25/2019 về ban hành quy trình thử nghiệm và giám sát thử nghiệm do Bộ Công thương ban hành, đã quy định với các nhà máy điện gió, nếu trong thời gian thử nghiệm, nguồn năng lượng sơ cấp không đạt, thì được phép thử nghiệm đến mức công suất tối đa theo sự sẵn sàng của nguồn năng lượng sơ cấp.

Quy trình này cũng quy định: việc chạy thử, nghiệm thu là quá trình thực hiện các thử nghiệm sau ngày đóng điện lần đầu để đo đạc, kiểm tra và chuẩn xác thông số vận hành, đặc tính kỹ thuật của thiết bị điện. Vì vậy, việc thử nghiệm có thể tiến hành khi nguồn năng lượng sơ cấp sẵn sàng, nhưng không quá 1 năm kể từ ngày đóng điện lần đầu.

Nhưng trong quyết định 39 và thông tư 02 lại quy định “cứng” về thử nghiệm kỹ thuật mà không tính đến các yếu tố bất lợi, khách quan như thời tiết. Do đó, doanh nghiệp cho rằng, việc quy định cứng nhắc các yêu cầu này trước ngày vận hành thương mại là không hợp lý.

Cũng bởi quá trình thử nghiệm với dự án năng lượng tái tạo luôn phụ thuộc nhiều vào nguồn năng lượng sơ cấp, nên nếu quy định quá cứng, hoặc hướng dẫn không rõ ràng, thiếu nhất quán như trên, có thể làm giảm tính minh bạch của pháp luật, tăng rủi ro cho nhà đầu tư.

Chưa kể, theo một nhà đầu tư, trong hợp đồng mua bán điện (PPA) do EVN đưa ra, các quy định về điều kiện công nhận ngày vận hành thương mại điện mặt trời cũng đã được cắt giảm từ 9 thử nghiệm còn 3 thử nghiệm so với quyết định 25 mà không có cơ sở.

Do vậy, trong các đơn kiến nghị gửi Thủ tướng, chủ đầu tư 4 dự án trên không những đề xuất công nhận COD cho các dự án vào ngày 31-10-2021, mà còn đề nghị EVN và Bộ Công thương sửa đổi các điều kiện công nhận COD để phù hợp với thực tế, tránh những lý do khách quan, không nhất quán giữa các luật.

Theo Tuổi Trẻ Online

Amoniac xanh là gì? Triển vọng và thách thức trong sản xuất

Amoniac xanh (green ammonia) là sản phẩm amoniac được sản xuất bằng các nguồn năng lượng tái tạo, vì vậy không phát thải khí cacbon. Thuật ngữ này đang ngày càng trở nên phổ biến trong lĩnh vực sản xuất amoniac. Mối quan tâm về amoniac xanh đang được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ những nỗ lực toàn cầu nhằm giảm thiểu phát thải cacbon trong những thập niên tới. Tại Việt Nam, trong dự thảo Quy hoạch điện VIII, cũng có đề cập đến nhiên liệu này.

Mặt khác, amoniac xanh cũng đang được xem xét như phương tiện lưu trữ năng lượng tái tạo để sử dụng khi cần, và là phương tiện để vận chuyển hydro. Hiện nay, nhiều công ty đã nhận thấy triển vọng của amoniac xanh như một dạng nhiên liệu sạch, đặc biệt là trong các lĩnh vực ứng dụng như sử dụng làm nguồn lưu trữ năng lượng hoặc nhiên liệu cho ngành kinh doanh vận tải. Nếu sử dụng làm nguồn cung năng lượng, amoniac có mật độ năng lượng cao gấp 9 lần ắc quy ion liti, gấp 1,8 lần hydro lỏng, hơn nữa lại có ưu điểm là dễ vận chuyển hơn hydro lỏng.

Sản lượng amoniac toàn cầu ngày nay đạt khoảng 180 triệu tấn/năm, nhưng tiềm năng sử dụng làm nguồn năng lượng có thể khiến cho nhu cầu thị trường amoniac tăng lên đến nhiều tỉ tấn/năm. Ngày nay, amoniac xanh được xem như một trong những nhiên liệu chính cho ngành vận tải hàng hải, cho phép ngành này đạt mục tiêu giảm phát thải CO­2 đã đề ra đối với các mốc thời gian 2030 và 2050.

Triển vọng sử dụng làm nhiên liệu hàng hải

Theo quy định của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), từ 1/1/2020 lượng phát thải lưu huỳnh oxit của tất cả các tàu biển sẽ không được vượt quá 0,5%. Quy định mới này được thiết lập với mục đích giảm phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường. Tiếp theo, IMO dự định sẽ đưa ra quy định về cắt giảm 40% phát thải CO­2 vào năm 2030 và cắt giảm 70% vào năm 2050 so với mức phát thải năm 2018.

Để đáp ứng các quy định về giảm phát thải CO­2, ngành hàng hải đang ngày càng đồng thuận cùng chung quan điểm cho rằng nhiên liệu truyền thống sẽ không thể được tiếp tục sử dụng cho hoạt động vận tải sau thời hạn chót 2050. Nhiều nguồn năng lượng khác đang được xem xét để thay thế, trong số đó có hydro và amoniac. Đặc biệt, lợi thế của amoniac ngày càng được công nhận, cả đối với nhiên liệu tàu thuyền (thay thế nhiên liệu hydrocacbon truyền thống) cũng như pin nhiên liệu (thay thế hydro).

Amoniac có những ưu điểm rõ rệt so với hydro lỏng, như dễ lưu kho và thao tác hơn, đồng thời cũng được xem như phương tiện an toàn để vận chuyển hydro.

Hiện tại, đã có nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm thử nghiệm tính khả thi của amoniac trong ngành vận tải hàng hải. Đầu năm 2020, Công ty vận tải biển MISC, Công ty Samsung Industries, Hãng đăng kiểm lloyd’s register và Công ty MAN Energy Solutions đã tuyên bố chương trình hợp tác phát triển tàu chở dầu sử dụng nhiên liệu amoniac. Trong khi đó, Công ty dầu mỏ Equinor (Na-Uy) đang hợp tác với Công ty kỹ thuật hàng hải Eidesvik để cải tạo con tàu Viking Energy thành tàu sử dụng nhiên liệu amoniac vào năm 2024.

Công ty Nordic Innovation (Na-Uy) đang cấp vốn cho nhiều dự án vận tải biển bằng năng lượng xanh, trong đó có một dự án với mục tiêu hạ thủy con tàu chạy năng lượng amoniac vào năm 2025.

Mối quan tâm của ngành vận tải biển không chỉ giới hạn ở các tàu vận chuyển hàng với khối lượng lớn. Công ty vận hành tàu chở khách Color Fantasy cũng đang có kế hoạch thử nghiệm tàu chở khách chạy bằng nhiên liệu amoniac trên vùng biển Bắc Âu.

Công ty Haldor Topsoe tại đan Mạch sắp tới sẽ công bố báo cáo về ngành vận tải biển với hướng dẫn về những việc cần thực hiện để chấp nhận sử dụng amoniac làm nhiên liệu hàng hải.

Những thách thức về sản xuất

Trong khi amoniac truyền thống được sản xuất bằng cách sử dụng nguyên liệu khí thiên nhiên, khi sản xuất amoniac xanh người ta sử dụng thiết bị điện phân để tách hydro từ nước và thiết bị tách không khí để tách nitơ từ không khí, năng lượng cần thiết cho những quá trình này là điện năng được tạo ra từ năng lượng Mặt Trời/gió/thủy điện.

Sản xuất amoniac bằng thiết bị điện phân và năng lượng tái tạo không phải là khái niệm mới, nhưng công nghệ này ngày nay đang ngày càng được phát triển để tăng mạnh hiệu quả tiêu thụ năng lượng. Đầu thế kỷ 20, Công ty Norsk Hydro của Na-Uy đã sản xuất amoniac dựa trên nguồn năng lượng thủy điện. Hiện nay nhiều nghiên cứu đang được thực hiện với mục đích phát triển amoniac xanh, chủ yếu tại các nước Tây bắc châu âu, nhưng Nhật Bản cũng đang tích cực tham gia.

Tuy hiện nay chưa có những nhà máy sản xuất amoniac xanh quy mô lớn, nhưng các nhà sản xuất và các công ty công nghệ đang bắt đầu dọn đường cho những công nghệ xanh trong sản xuất amoniac. Những nhà máy amoniac xanh mới có khả năng sẽ cần được xây dựng ở những quốc gia có tiềm năng lớn về năng lượng Mặt Trời, năng lượng gió hoặc thủy điện, tốt nhất là kết hợp ít nhất hai nguồn năng lượng trong số đó để giảm thiểu những vấn đề về gián đoạn nguồn cung năng lượng và giảm xuống tối thiểu chi phí vận hành.

Những địa điểm lý tưởng sẽ là những nơi gần các thị trường tiêu thụ, ví dụ Australia đang được xem như một địa điểm hợp lý dựa trên tiềm năng về năng lượng tái tạo và vị trí gần thị trường tiêu thụ ở Đông Á.

Tương tự như vấn đề vốn đầu tư cao khi xây dựng nhà máy, một trong những thách thức lớn mà sản xuất amoniac xanh đang phải đối mặt là chi phí năng lượng tái tạo cao và nguồn cung hạn chế so với nguồn cung khí thiên nhiên rẻ tiền và dồi dào.

Tại châu âu, chi phí năng lượng tái tạo hiện nay khiến cho giá thành sản xuất một tấn amoniac xanh cao hơn khoảng 200-300% so với amoniac truyền thống. Nhưng về dài hạn, ước tính giá năng lượng tái tạo giảm sẽ giúp cho chi phí sản xuất amoniac xanh chỉ còn cao hơn 50-150% so với amoniac truyền thống. Đồng thời, việc đánh thuế phát thải cacbon cao theo quy định ở châu âu cũng sẽ hỗ trợ sản xuất amoniac xanh.

Nhìn chung, trong tương lai việc tăng tối đa hiệu quả năng lượng trong công nghệ sản xuất và xu hướng giảm giá năng lượng tái tạo sẽ là những yếu tố then chốt cho sự phát triển của sản xuất amoniac xanh.