Mất điện: Nỗi ám ảnh nhà đầu tư, doanh nghiệp đang quay lại

Sự cố mất điện toàn miền Nam mới đây và tình trạng thiếu điện trong mùa hè này đã khiến các DN, nhà đầu tư lo ngại. Nỗi ám ảnh thiếu điện của những năm trước đang quay trở lại.

Phát biểu tại Diễn đàn DN giữa kỳ năm 2013 mới đây, ông Motonobu Sato, Chủ tịch Hội DN Nhật Bản tại Việt Nam cho biết, các nhà đầu tư đang rất lo ngại về nguồn cung năng lượng của Việt Nam. Theo ông Motonobu Sato, năm 2010 việc cắt điện luân phiên đã khiến nhiều DN Nhật Bản bị gián đoạn sản xuất. Một số DN còn bị áp dụng lịch cắt điện 48 giờ mỗi tuần.

Vỡ quy hoạch điện?

Hiệp hội năng lượng Việt Nam cho biết, hiện có nhiều dự án nguồn điện bị chậm tiến độ, không chỉ ở miền Nam. Đáng lẽ một số dự án phải đưa vào vận hành từ năm 2011, song đến nay vẫn đang trong tình trạng xử lý sự cố như: Nhà máy thuỷ điện Sông Tranh 2, Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng tổ máy 2. Bên cạnh đó, cũng theo kế hoạch, dự án nhiệt điện Vũng Áng I, An Khánh I phải hoàn thành trong năm 2012. Tuy nhiên, nếu thuận lợi cũng phải năm 2013 các nhà máy trên mới có thể vận hành được. Nhiều dự án trong giai đoạn 2011 – 2020 nhưng vẫn chưa xác định được chủ đầu tư.

Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến năm 2030, (gọi tắt là Tổng sơ đồ điện 7), được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011, theo đó, Việt Nam đặt ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ đạt tổng công suất nguồn phát khoảng 75.000 MW và đến năm 2030 khoảng 146.800 MW.

Theo Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, mục tiêu 75.000 MW điện vào 2020 như Tổng sơ đồ điện 7 đặt ra là hết sức khó khăn. Với tổng công suất nguồn đạt 75.000 MW vào 2020, cũng chỉ đáp ứng được nhu cầu về điện cho tăng trưởng kinh tế ở mức 6%/ năm. Nếu kinh tế tăng trưởng ở mức cao hơn, từ 7- 8%/năm trở lên và đời sống nhân dân tăng thì đáp ứng không đủ.

Diễn đàn DN, thiếu điện, quy hoạch điện, năng lượng sạch, thủy điện, nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời.

Dự tính, đến hết năm 2013, tổng công suất điện của cả nước sẽ đạt khoảng 30.000 MW, như vậy từ 2014 – 2020 bình quân mỗi năm phải đưa vào trên 6.000 MW là điều rất khó thực hiện.

Theo Tổng sơ đồ điện 7, đến 2020, nhiệt điện than sẽ chiếm tới 48% trong tổng công suất, như vậy sẽ cần lượng than là 67,3 triệu tấn/năm và đến 2030, nhiệt điện than khoảng 76.000 MW, chiếm 51,6% sẽ cần 171 triệu tấn than/năm.

Nguồn than cung cấp cho nhiệt điện than là một vấn đề hết sức nan giải. Từ 2015 Việt Nam phải nhập khẩu than, nhưng đến nay nguồn cung chưa được đảm bảo. Trên thế giới các nước có trữ lượng than lớn là CHLB Nga, Ấn Độ, Indonesia, Úc, trong số các nước đó chỉ có Úc và Indonesia có khả năng xuất khẩu, nhưng đến nay họ vẫn chưa trả lời sẽ đảm bảo cho Việt Nam được bao nhiêu và trong thời gian bao lâu.

Trong nước với bể than thuộc Đồng bằng sông Hồng có trữ lượng 200 tỷ tấn, có thể khai thác lò tại 1 số tỉnh như Hà Nam, Thái Bình. Tại Quảng Ninh cũng có thể khai thác thêm 1 tỷ tấn ở mức dưới 100m, nhưng vấn đề quan trọng là nguồn vốn.

Dù nhập khẩu hay mở mỏ tại Việt Nam thì cũng cần vốn lớn. Chẳng hạn, muốn mở mỏ tại Quảng Ninh, thì cần tới 20 mỏ và chi phí mỗi mỏ cũng vào khoảng 300 triệu USD, tốn 6 tỷ USD. Đây là những nguồn vốn lớn khó có thể nào cáng đáng nổi.

Trông chờ năng lượng sạch?

Có nhiều ý kiến cho rằng không nên phát triển thủy điện vì gây ra phá rừng, tác động tới môi trường; nhưng nhiệt điện than cũng gây ra tác hại lớn. Khai thác than cũng gây ra nhiều tai biến môi trường khu vực mỏ và xung quanh, cộng với đó là phát thải 1 lượng khí CO2 lớn vào không khí. Cụ thể, phát 1 tỷ Kwh điện bằng than sẽ cần tới 540.000 tấn than đá và một lượng phát thải khí CO2 hàng năm là 514.000 tấn.

Phát triển điện gió đang gặp phải những vấn đề chi phí rất cao. Theo tính toán, điện gió có giá thành 4.000 đồng/Kwh. Tại đảo Phú Quý ( Ninh Thuận) nơi đang sử dụng điện gió thì giá bán cho người dân và DN lên tới 7.000 đồng/Kwh, một số DN tại đây đã phải ngừng hoạt động do chi phí điện quá cao, khiến cho kinh doanh thua lỗ.

Còn điện mặt trời thì đây chính là giải pháp khả thi nhất cho năng lượng tái tạo Việt Nam. Điện mặt trời có thể lắp đặt tại bất kỳ nơi đâu, đơn giản và cực kỳ hiệu quả. Các tấm panel năng lượng mặt trời đang được cả thế giới tin dùng, nhưng với Việt Nam chúng ta còn đi sau thời đại, một phần do công tác truyền thông, một phần thiếu các chính sách hỗ trợ từ Đảng, Chính phủ và Nhà nước. Với khoản đầu tư 2 tỷ đồng cũng có thể đem lại ánh sáng cho 1.500 hộ dân đây là con số mà điện gió và các nguồn điện khác không thể làm được ngoài điện năng lượng mặt trời.

Diễn đàn DN, thiếu điện, quy hoạch điện, năng lượng sạch, thủy điện, nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời.
Sự cố từ một cành cây, cả miền Nam mất điện.

Những cánh quạt khổng lồ của điện gió đã trực tiếp giết chết nhiều loài động vật, chủ yếu là chim chóc. Tiếng ồn của các tua bin gió cùng rung động của chúng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cư dân xung quanh. Chưa hết, những cột tháp tua bin gió cũng chiếm rất nhiều diện tích. Do yêu cầu kỹ thuật và an toàn, khoảng cách giữa các tháp tua bin gió phải gấp 5 lần đường kính cánh quạt. Do đó, tính trung bình, để tạo ra một MW phong điện, phải mất tới từ 5 đến 15 hecta đất.

Với thủy điện cũng gây ra những tác động tới môi trường, nhưng có giá thành rẻ nhất chỉ khoảng 5 cent/Kwh, mức giá này sẽ giúp trung hòa với các nguồn phát giá cao, góp phần giảm giá bán điện.

Theo quan điểm của nhiều chuyên gia, phát triển kinh tế chắc chắn sẽ tác động tới môi trường. Nếu vì lợi ích kinh tế mà phá hoại môi trường là không được, ngược lại, vì môi trường mà làm kinh tế kém phát triển cũng không nên và cũng không có chuyện cả 2 cùng tốt được, vì vậy cần có sự thận trọng và cân bằng lợi ích.

Theo Vietnamnet.vn

Advertisements

Tìm vốn cho các dự án năng lượng tái tạo

Ngày 4/6/2013, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo “APEC về thông lệ tốt trong việc cấp vốn cho các dự án năng lượng tái tạo (NLTT)”.

Việt Nam luôn được đánh giá là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về các nguồn NLTT, cụ thể, ông Nguyễn Đức Cường – Giám đốc Trung tâm Năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch – Viện Năng lượng – Bộ Công Thương cho biết: Tiềm năng NLTT của nước ta khá dồi dào và đa dạng với nguồn sinh khối ở mức khoảng 2.500 MW, thủy điện nhỏ ở mức 7.000 MW, điện gió ở mức 3.000 MW… Tuy nhiên, khả năng khai thác nguồn năng lượng này còn khiêm tốn với khoảng 150 MW sinh khối, 1.100 MW thủy điện nhỏ, 55 MW điện gió đã được khai thác… Nguyên nhân được lý giải là do cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, chính sách chưa đủ mạnh, nguồn lực lại hạn chế, đặc biệt là nguồn lực về tài chính, trong khi đó, lĩnh vực NLTT đòi hỏi nguồn tài chính và nhân lực rất lớn.

Tìm vốn cho các dự án năng lượng tái tạo

Không thể phủ nhận những ưu điểm của NLTT như giúp nguồn cung điện giảm phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống, thân thiện với môi trường… Hai vấn đề đặt ra cho việc phát triển các dự án NLTT là nguồn vốn từ đâu để xây dựng các dự án và khi đã sản xuất ra rồi, việc tiêu thụ sẽ được giải quyết thế nào?

Về vấn đề tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để xây dựng các dự án NLTT, tính đến nay, chỉ có nhà máy điện gió tại Bạc Liêu tiếp cận được nguồn vốn từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ thông qua sự bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam với mức vay 70% tổng vốn của dự án ở giai đoạn 1. Dự kiến, khi bước sang giai đoạn 2, nhà máy này sẽ được vay 85% tổng vốn của dự án.

Việc tiêu thụ các sản phẩm điện từ nguồn NLTT cũng gặp nhiều khó khăn bởi so với điện được sản xuất từ các nguồn truyền thống giá của điện được sản xuất từ NLTT khá cao. Mặc dù Chính phủ đã đề ra mục tiêu ưu tiên cho các nguồn điện được sản xuất từ NLTT, song đến nay, chỉ có điện gió được hỗ trợ giá mua với mức 7,8 cent/kWh (trong đó 6,8 cent là giá do Tập đoàn Điện lực Việt Nam trả, 1 cent còn lại được Nhà nước trợ giá). Chính vì việc chưa có cơ chế để khuyến khích sản xuất điện từ các nguồn này nên các nhà đầu tư vẫn còn e dè với việc đầu tư cho điện từ NLTT.

Chia sẻ kinh nghiệm cho việc tìm vốn cho các dự án NLTT, Tiến sỹ Cary Bloyd – Chuyên viên Khoa học cao cấp – Phòng thí nghiệm quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (Hoa Kỳ) cho biết: Kinh nghiệm của các nước phát triển mạnh về các nguồn NLTT cho thấy, điều quan trọng là Chính phủ và DN phải làm việc với các Ngân hàng để cho họ thấy những hiệu quả rõ nét của các dự án NLTT, từ đó thúc đẩy việc cho vay vốn. Bên cạnh đó, các dự án NLTT sẽ mang lại một lượng việc làm đáng kể cho địa phương đặt dự án. Đây là điều hết sức quan trọng, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vì vậy, Chính phủ, chính quyền địa phương nơi đặt dự án cần những hỗ trợ đặc biệt cho các dự án này như miễn giảm thuế; miễn giảm tiền thuê đất… Ngoài ra, NLTT còn có đặc trưng là không phân bố đồng đều trong các vùng, miền, địa phương khác nhau nên cần có sự trao đổi, hỗ trợ, liên kết để cùng phát triển điện từ các nguồn này.

Ông Nguyễn Đức Cường cho biết thêm: Việt Nam có tiềm năng về NLTT, Chính phủ cũng đã có những động thái thể hiện rõ việc sẽ có thêm những ưu đãi cho phát triển điện từ các nguồn này, tuy nhiên, thời gian tới, cần những chính sách đủ mạnh, cần mức giá đủ hấp dẫn để có thể thu hút các nhà đầu tư vào các dự án này.

Bà Phạm Quỳnh Mai – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại Đa biên – Bộ Công Thương cho biết thêm: Phát triển NLTT là một trong những giải pháp nhằm thúc đẩy an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Tuy nhiên, do là lĩnh vực mới, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm và thiếu vốn… Việt Nam cần những sự hỗ trợ của các nước cùng trong cộng đồng APEC về kinh nghiệm để thu hút vốn phát triển các dự án này.

Trong khi nhu cầu năng lượng trên thế giới ngày càng gia tăng, NLTT ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Tiềm năng đã có, những ưu điểm của nguồn năng lượng này cũng đã được chứng minh, thời gian tới, bài toán về vốn cho NLTT tại Việt Nam cần được giải quyết để đưa nguồn năng lượng phát triển mạnh hơn nữa.