Triển vọng năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Hiện nay, các nguồn năng lượng hóa thạch như than, dầu, khí đốt đã và đang là nguồn năng lượng chiếm tỷ trọng lớn cho phát điện tại nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Trong khi đó, việc sử dụng năng lượng hóa thạch là một trong các nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người. Các nguồn năng lượng nói trên cũng đang dần cạn kiệt, trong khi Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn do các nguồn năng lượng thông thường để đáp ứng nhu cầu phát điện đã và đang vượt quá khả năng cung cấp. Chính vì vậy, với mức tăng trưởng nhu cầu điện năng khoảng 10%/năm, vấn đề đẩy mạnh nghiên cứu và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió, năng lượng mặt trời là hết sức cấp thiết đối với Việt Nam. Bài viết này trình bày khái quát về thực trạng sử dụng các nguồn năng lượng cho phát điện ở Việt Nam, tiềm năng cũng như nhìn nhận triển vọng sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, mà cụ thể là năng lượng gió, năng lượng mặt trời cho phát điện.

Pin năng lượng mặt trời ở Đại học Thammasat, Thái Lan (Ảnh: PanNature)

Nhu cầu điện năng và cơ cấu các nguồn năng lượng cho phát điện

Việt Nam là một trong những nước đang phát triển ở Đông Nam Á có mức độ gia tăng nhu cầu sử dụng điện khá cao, đồng thời tỷ trọng năng lượng hóa thạch sử dụng trong phát điện vẫn còn khá lớn. Bên cạnh nguy cơ thiếu hụt nguồn năng lượng hóa thạch do trữ lượng đang dần cạn kiệt thì việc sử dụng năng lượng hóa thạch đang gây ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường cũng là một thực trạng mà Việt Nam phải đối mặt. Trong khi đó, Việt Nam được biết đến là một nước có tiềm năng khá lớn về năng lượng tái tạo (NLTT) nhưng hiện tại mới chỉ khai thác và sử dụng một tỷ lệ rất nhỏ. Cho đến nay số các dự án có tầm cỡ và quy mô ở nước ta rất ít, tỷ trọng công suất lắp đặt các nhà máy điện từ NLTT trong tổng công suất đặt của cả hệ thống còn rất khiêm tốn. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực thúc đẩy phát triển NLTT và nguồn điện từ NLTT trong các Quy hoạch phát triển điện lực gần đây, đặc biệt là Quy hoạch điện VII nhưng việc phát triển NLTT ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển trong Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 mới được phê duyệt, cũng như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, đồng thời chưa đảm bảo các cam kết của Việt Nam trong Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu (Thỏa thuận Paris).

Đẩy mạnh sử dụng NLTT đang là xu thế của các nước trên thế giới bởi vai trò quan trọng và tính ưu việt của chúng, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ sản xuất điện từ NLTT đang phát triển rất nhanh, dần đảm bảo khả năng cạnh tranh với các nguồn năng lượng truyền thống. Chính vì vậy, việc gia tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ NLTT là một đòi hỏi tất yếu cho sự phát triển của hệ thống điện, cần được đưa vào cụ thể hơn trong Quy hoạch nguồn điện Việt Nam.

Theo quy hoạch điện VII điều chỉnh, năm 2020 nhu cầu điện năng của Việt Nam đạt 265 tỷ kWh và đến năm 2030 đạt trên 572 tỷ kWh. Tổng công suất lắp đặt năm 2020 là 60.000 MW và sẽ tăng lên 129.500 MW vào năm 2030, trong đó nhiệt điện than sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng cao cho đến năm 2030. Cụ thể, nếu như trong năm 2015-2016 nhiệt điện than chỉ mới chiếm 34% thì đến năm 2020 lên đến 49,3%, năm 2025 lên 55% và đến năm 2030 sẽ ở mức 53,2%.

Đối với điện từ năng lượng tái tạo (bao gồm cả thủy điện nhỏ) mức tăng còn hạn chế. Cụ thể năm 2020 khoảng 6,4%, năm 2025 khoảng 6,9% và đến năm 2030 là 10,7%. Xét về cơ cấu các nguồn năng lượng cho phát điện, theo báo cáo của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia năm 2015, nhiệt điện chiếm 54,15% công suất nguồn theo loại nhiên liệu (trong đó nhiệt điện than 28,88%, nhiệt điện khí 21,85% và nhiệt điện dầu 3,42%); thủy điện 39,96% và 5,9% là NLTT trong đó chủ yếu là thủy điện nhỏ, điện gió và điện mặt trời còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.

Hiện nay, ba nguồn phát điện chính là thủy điện, nhiệt điện khí và nhiệt điện than, chiếm tới trên 94% tổng công suất nguồn điện trong hệ thống điện nước ta. NLTT chưa được sử dụng nhiều cho phát điện, hơn nữa có đến 88,6% điện năng sản xuất từ NLTT ở nước ta là từ các nhà máy thủy điện nhỏ (Nguyễn Ngọc Hoàng, 2015). Trong đó, điện gió và điện mặt trời chỉ đóng góp rất nhỏ trong cơ cấu sản xuất điện cả nước. Theo báo cáo tổng kết hàng năm của Trung tâm Điều độ Hệ thống Điện Quốc gia, công suất lắp đặt các nguồn điện sản xuất từ NLTT đến năm 2014 là 2.009 MW. Cụ thể, thủy điện nhỏ là 1.938 MW, sinh khối 24 MW, gió 46 MW, điện mặt trời 1MWp (Trung tâm Điều độ Hệ thống Điện Quốc gia, 2015).

Tiềm năng năng lượng gió và năng lượng mặt trời

Nguồn năng lượng gió

Theo báo cáo của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng điện 3 (PECC3), tiềm năng năng lượng gió tại độ cao 80m của Việt Nam có vận tốc trung bình năm lớn hơn 6 m/s là khoảng 10.637 MW, với diện tích khoảng 2.659 km2, tương đương khoảng 0,8% diện tích cả nước. PECC3 cho rằng khu vực này mới khả thi về tài chính. Còn theo GreenID tiềm năng kỹ thuật của năng lượng gió ở Việt Nam là khoảng 27.750 MW

Bộ Công thương (MoIT) với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, đã tiến hành mô hình đo gió tại ba điểm lựa chọn, góp phần vào việc xác định lại tiềm năng gió ở Việt Nam (2007). Các kết quả của nghiên cứu này cùng với số liệu khác đã được MoIT sử dụng để cập nhật bản đồ gió cho Việt Nam. Kết quả đánh giá tiềm năng gió ở độ cao 80m được thể hiện như trong bảng dưới.

  Nguồn: Thông tin về năng lượng gió Việt Nam – Dự án năng lượng gió GIZ, 2011

Nói chung, tiềm năng năng lượng gió Việt Nam qua số liệu đánh giá còn chênh lệch nhau do quy mô và mức độ nghiên cứu có khác nhau. Tuy nhiên, Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn về nguồn năng lượng này.

Nguồn năng lượng mặt trời

Tiềm năng năng lượng mặt trời có thể khai thác được căn cứ vào bức xạ mặt trời. Việt Nam là khu vực có bức xạ mặt trời hàng năm tương đối lớn và ổn định, đặc biệt là các khu vực Cao nguyên Miền Trung, duyên hải miền Trung và Miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long. Tính trung bình toàn quốc thì năng lượng bức xạ mặt trời là 4-5kWh/m2 mỗi ngày. Theo đánh giá, những vùng có số giờ nắng từ 1800 giờ/năm trở lên thì được coi là có tiềm năng để khai thác sử dụng. Đối với Việt Nam, tiêu chí này phù hợp với nhiều vùng, nhất là các tỉnh phía Nam. Tiềm năng lý thuyết điện mặt trời tại Việt Nam được dự tính như bảng sau:

Nguồn: Trung tâm số liệu khí tượng thủy văn, 2014

Khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên có tiềm năng điện mặt trời cao nhất do có diện tích đất và tổng xạ mặt trời cao nhất nước.

Theo GreenID tiềm năng có thể khai thác cho sản xuất điện năng từ năng  lượng mặt  trời  tại Việt Nam ước tính khoảng 13.000 MW. Trong khi đó, tổng công suất lắp đặt pin mặt trời để sản xuất điện mới chỉ khoảng 5 MW vào năm 2015, chủ yếu cho mục đích nghiên cứu và điện khí hóa nông thôn.

Xu thế chi phí phát điện từ năng lượng tái tạo

Với sự phát triển nhanh về khoa học công nghệ, chi phí phát điện từ các nguồn năng lượng tái tạo hiện đang giảm nhanh và ngày càng cạnh tranh hơn. Theo đánh giá của IRENA, chi phí phát điện từ năng lượng mặt trời có thể giảm 59% và năng lượng gió có thể giảm 26% trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2025. Cụ thể chi phí phát điện trung bình đối với điện gió trên bờ có thể giảm 26% và lên đến 35% với điện gió ngoài khơi. Đối với Công nghệ hội tụ năng lượng mặt trời CSP (concentrated solar power) có thể giảm ít nhất 37% và Công nghệ quang điện PV (Solar Photovoltaic) có thể giảm đến 59%.

Nguồn: International Renewable Energy Agency (IRENA), 2016

Theo đánh giá của Lazard, chi phí sản xuất điện gió năm 2017 tại Mỹ chỉ bằng 33% so với năm 2009, giảm từ $140/MWh xuống $46/MWh chỉ trong 8 năm. Chi phí sản xuất điện từ năng lượng mặt trời còn có mức giảm thậm chí còn lớn hơn nhiều, giảm 86% kể từ năm 2009 xuống mức 46-53 USD / MWh hiện nay.

Hơn nữa, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng sẽ thúc đẩy sự đổi mới liên tục, triển vọng chi phí phát điện từ các nguồn năng lượng mặt trời, năng lượng gió sẽ giảm khá nhanh trong tương lai.

Triển vọng cho sản xuất điện từ năng lượng tái tạo

Cơ cấu các nguồn điện cho giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn 2030 đã được đề ra trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh và được tóm tắt ở bảng 4. Theo đó, điện năng sản xuất từ các nguồn NLTT chiếm 6,5% đến năm 2020; đến năm 2030 con số này tăng lên là 10,7%.

Nguồn: Quyết định số 428/QĐ-TTg, 2016

Khi tỷ lệ điện sản xuất từ NLTT gia tăng do suất đầu tư cho điện gió và điện mặt trời giảm mạnh theo xu thế hiện nay thì tỷ lệ công suất nguồn điện từ NLTT hoàn toàn là khả thi theo như quy hoạch đã đưa ra. Theo tính toán sơ bộ thì thậm chí tỷ lệ NLTT có thể được tăng lên đến 12,6% vào năm 2030 khi đảm bảo một số điều kiện ràng buộc nhất định.

Đồng thời, khi các thị trường toàn cầu và khu vực về công nghệ năng lượng mặt trời, năng lượng gió phát triển, quy mô thị trường tăng lên sẽ mang lại cơ hội để nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng, qua đó suất đầu tư còn có cơ hội giảm sâu. Mặc dù trong quy hoạch điện Việt Nam cũng đã có tính đến sự tham gia của NLTT trong phát điện, nhưng vẫn chưa xét cụ thể cơ cấu từng nguồn năng lượng tái tạo. Việc xây dựng quy hoạch vì vậy cần phải có nhiều dữ liệu chi tiết hơn và phải được thu thập, phân tích một cách có hệ thống để xác định cụ thể và chính xác tiềm năng các nguồn NLTT, xu thế công nghệ cũng như sự đánh đổi của các lựa chọn chính sách. Điều này đặc biệt quan trọng vì xu hướng giảm nhanh chi phí sản xuất điện từ NLTT trong tương lai. Đặc biệt, chi phí sản xuất điện từ NLTT cần được so sánh với chi phí sản xuất từ các nguồn năng lượng hóa thạch khi tính đầy đủ những chi phí ngoại biên liên quan đến cảnh quan bị phá hủy, sức khỏe con người và sinh kế bị ảnh hưởng, cũng như môi trường bị ô nhiễm.

Tóm lại, xu thế công nghệ phát điện từ NLTT cho thấy, phát triển các nguồn NLTT nói chung, năng lượng gió và năng lượng năng lượng mặt trời nói riêng cho phát điện đã và đang có triển vọng lớn và là giải pháp hiệu quả nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra về an ninh năng lượng cũng như cam kết giảm khí thải của Việt Nam trong Thỏa thuận tại COP21. Nó cũng là cơ sở cho một tương lai chuyển đổi mạnh mẽ trong ngành năng lượng và trong phát điện bằng NLTT. Sự thiếu hụt nguồn năng lượng truyền thống phục vụ sản xuất điện ở Việt Nam hoàn toàn có thể được bù đắp bằng việc khai thác và sử dụng các nguồn NLTT nếu có những chính sách thích hợp. Hiện vẫn còn thiếu các thông tin và chính sách khuyến khích để phát triển NLTT, những rào cản này cần được khắc phục để thực hiện có hiệu quả nhằm đảm bảo sự phối hợp tối ưu giữa các nguồn năng lượng truyền thống và tái tạo. Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc đẩy nhanh sự tham gia của các nguồn NLTT nói chung và nguồn năng lượng gió, năng lượng mặt trời nói riêng cho phát điện đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc đáp ứng nhu cầu điện năng mà còn đảm bảo cho phát triển bền vững của nền kinh tế.

Tài liệu tham khảo

1.     Quyết định số 428/QĐ-TTg, 2016, Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030.

2.     Bộ Công thương, 2013, Dự án PECC3 “Đánh giá nguồn gió tại một số vị trí đã lựa chọn ở Việt Nam”.

3.     Bộ Công thương, 2011, Quy hoạch phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011 – 2020, có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII).

4.     Nguyễn Ngọc Hoàng, 2015, Báo cáo ngành Điện – Thông điệp từ thị trường cạnh tranh.

5.     Bùi Huy Phùng, 2013, Phát triển năng lượng và Chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học năng lượng.

6.     Dự án năng lượng gió GIZ, 2011, Thông tin về năng lượng gió Việt Nam.

7.     Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID), 2016, Đính chính những hiểu lầm về năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

8.     Trung tâm Điều độ Hệ thống Điện Quốc gia, 2015, Báo cáo tổng kết hàng năm, 2015.

9.     Trung tâm số liệu khí tượng thủy văn, 2014.

10.  International Renewable Energy Agency (IRENA), 2016, The power to change: Solar and Wind cost reduction potential to 2025.

11.  International Renewable Energy Agency (IRENA, Renewable Generation costs in 2014.

12.  https://www.lazard.com/

TS. Phạm Cảnh Huy, Trưởng Bộ môn Kinh tế Công nghiệp, Đại học Bách khoa Hà Nội

Advertisements

Năng lượng tái tạo: tiềm năng lớn, thiếu quy hoạch

[Samtrix.vn] – Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo (NLTT). Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng nguồn NLTT đang là một thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách.

Tiềm năng lớn

Đánh giá về tiềm năng phát triển NLTT tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, số giờ nắng bình quân trong năm từ 2.500-3.000 giờ với nhiệt độ bình quân năm trên 210C. Ngoài ra, Việt Nam có tiềm năng lớn về các dạng NLTT khác như gió, sinh khối… Đây là những nguồn năng lượng sạch, quý giá, cần được khai thác một cách hợp lý, hiệu quả.

Riêng về tiềm năng điện gió, theo ông Nguyễn Văn Vy, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, với công nghệ hiện đại, chỉ cần tốc độ gió từ 5m/s trở lên, turbine đã có thể phát điện. Ước tính, điện gió trên đất liền của Việt Nam có thể tạo ra khoảng 40-50 nghìn MW, nếu cộng thêm tiềm năng điện gió từ ngoài khơi, Việt Nam có thể phát triển trên 100 nghìn MW.

Còn với năng lượng mặt trời, Việt Nam có thể lắp đặt các tấm pin điện mặt trời ở nhiều vùng khác nhau như trên bờ biển, hồ nước, đồng bằng, rừng núi, trên mái nhà… Nếu tính trung bình, cứ khoảng 1ha thu được 1MW điện mặt trời, Việt Nam có thể sản xuất ra hàng chục nghìn MW công suất từ bức xạ năng lượng mặt trời.

Thách thức không nhỏ

Ông Ngô Sơn Hải – Phó tổng giám đốc EVN cho rằng, để phát triển điện năng một cách hiệu quả, bền vững, EVN hoàn toàn ủng hộ chủ trương đẩy mạnh phát triển NLTT, phù hợp với quy hoạch. Ưu tiên phát triển NLTT sẽ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ nguồn tài nguyên năng lượng, giảm tác động tiêu cực đến môi trường trong sản xuất điện. Tuy nhiên, khi có sự tham gia của NLTT, thiết kế hệ thống truyền tải và phân phối điện cũng sẽ phải điều chỉnh so với thiết kế truyền thống.

Tại Việt Nam, do nhu cầu sử dụng điện rất lớn, việc đẩy nhanh phát triển NLTT cũng cần phải lưu ý đến một số vấn đề như: Sự không ổn định của công suất phát vì phụ thuộc vào thời tiết (tốc độ gió, bức xạ mặt trời…). Để bảo đảm hệ thống điện vận hành ổn định, cần phải tính đến công suất dự phòng, bù đắp lượng công suất thiếu hụt khi nguồn NLTT không phát điện được. Các nguồn điện gió và điện mặt trời không có khả năng điều chỉnh điện áp nếu như không có các quy định chặt chẽ bắt buộc phải đầu tư các thiết bị bảo vệ trước khi nối lưới.

Cũng theo ông Ngô Sơn Hải, hiện nay, các nguồn điện đang vận hành theo cơ chế thị trường phát điện cạnh tranh. Dự kiến năm 2019, sẽ hình thành thị trường bán buôn điện cạnh trạnh. Tuy nhiên, vẫn chưa có cơ chế phù hợp cho NLTT hoạt động trong thị trường điện.

Để khắc phục những bất cập đó, EVN đề nghị các cơ quan chức năng sớm phê duyệt các quy hoạch phát triển nguồn điện NLTT cấp tỉnh, cấp quốc gia. Các dự án NLTT khi xem xét cần bảo đảm sự phát triển đồng bộ giữa nguồn và lưới điện, bảo đảm khả năng vận hành an toàn, kinh tế của hệ thống điện và hiệu quả đầu tư chung của xã hội…

Ông Nguyễn Văn Vy kiến nghị: Nhà nước cần xây dựng chính sách đồng bộ, ổn định, lâu dài cho phát triển NLTT, tăng độ tin cậy cho các nhà đầu tư; đồng thời xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong quá trình thiết kế, đầu tư xây dựng và quản lý khai thác vận hành các công trình nguồn điện từ NLTT, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho lưới điện đồng bộ với các nguồn điện sử dụng NLTT và các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các công trình, thiết bị khác liên quan đến NLTT, áp dụng thống nhất trong toàn quốc.

Ma-rốc xây nhà máy điện năng lượng mặt trời lớn nhất khu vực

Theo tạp chí Maghreb, vua Marocco Mohammed VI ngày 14/5 đã đặt viên gạch đầu tiên khởi công giai đoạn một xây dựng Tổ hợp năng lượng Mặt trời Noor tại tỉnh Ouarzazate với công suất ban đầu 160MW.

Vua Marocco Mohammed VI bên mô hình nhà máy điện Mặt trời tương lai.
Vua Marocco Mohammed VI bên mô hình nhà máy điện Mặt trời tương lai.

Sau 28 tháng xây dựng trên diện tích 3.000 hécta, nhà máy điện Mặt trời tương lai này sẽ đi vào hoạt động và có thể đạt công suất tối đa 500MW.

Chủ dự án là công ty Acwa Power của Arập Xêút, trong đó có vốn góp của bốn công ty Tây Ban Nha là Sener, Acciona, TSK và Aries. Chính phủ Đức cũng cam kết đóng góp 115 triệu euro.

Về phần mình, Ngân hàng phát triển châu Phi (BAD) tài trợ cho giai đoạn một của dự án này với khoảng 168 triệu euro. Đây là dự án thứ ba được BAD tài trợ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo ở Marocco, sau nhà máy điện Mặt trời tại Ain Beni Mathar và Chương trình khép kín năng lượng gió, nước và điện khí hóa nông thôn (PIEHER).

Là dự án lớn nhất và duy nhất thuộc loại này trên thế giới, tổ hợp năng lượng Mặt trời Noor được giới chuyên gia coi là biểu tượng của những nỗ lực của Chính phủ Marocco nhằm đáp ứng nhu cầu về điện trong tương lai phù hợp với chính sách phát triển bền vững.

Dự án này cũng góp phần đa dạng hóa nguồn sản xuất năng lượng (chủ yếu dựa trên năng lượng hóa thạch) của Marocco – nước phụ thuộc tới gần 97% vào nước ngoài để đáp ứng nhu cầu về năng lượng.

Ngoài ra, Noor cũng là dự án năng lượng Mặt trời đầu tiên ở châu Phi sử dụng “công nghệ năng lượng Mặt trời tập trung” và là giai đoạn quan trọng trong chiến lược tăng trưởng xanh của Marocco.

Trong giai đoạn đầu, dự án Noor cho phép giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính (khoảng 240.000 tấn khí điôxít cácbon/năm và trong 25 năm).

Theo công ty tư vấn Ernst and Young, Marocco là nước thứ hai trên thế giới có sức hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài về phát triển dự án trong lĩnh vực năng lượng Mặt trời tập trung.

Indonesia tăng cường đầu tư điện năng lượng mặt trời

Nhằm tăng cường thực hiện chiến lược phát triển một nền kinh tế “xanh,” Indonesia đang tích cực triển khai chương trình phát triển các nguồn năng lượng tái tạo thay thế cho nhiên liệu hóa thạch.

Trong khuôn khổ chương trình nói trên, Chính phủ Indonesia đã phân bổ từ ngân sách 400 tỷ rupiah cho các dự án phát triển panel năng lượng Mặt Trời trong năm nay.

Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Khoáng sản Indonesia Jero Wacik nói rằng nước này sẽ dành ưu tiên cho việc phát triển các tế bào năng lượng Mặt Trời như một nguồn năng lượng tái tạo giá rẻ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông thôn, bao gồm cả sự gia tăng các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thúc đẩy du lịch tại các khu vực gần các trạm điện năng lượng Mặt Trời.

Tổng vụ trưởng Bảo tồn năng lượng, Năng lượng mới và tái tạo, Bộ Năng lượng và Khoáng sản Indonesia, Rida Mulyana cho biết thêm rằng khoản chi ngân sách 400 tỷ rupiah nói trên sẽ được sử dụng để lắp đặt các trạm tế bào năng lượng Mặt Trời tại 120 khu vực khác nhau trên cả nước, với tổng công suất của 8 MWp (mega watt photovoltaic), có thể cung cấp điện cho hơn 10.300 hộ gia đình.

Trong năm 2012, đã có 117 khu vực ở Indonesia được lắp đặt trạm điện năng lượng Mặt Trời với tổng công suất 4,8 MWp.

Trạm phát điện mới nhất từ tế bào năng lượng Mặt Trời của Indonesia vừa được đưa vào hoạt động tại huyện Karangasem, tỉnh đảo Bali ngày 25/2./.

Italia: Mafia thao túng ngành năng lượng tái tạo

Một hoạt động kinh doanh khá mới mẻ đang bùng phát ở Italia có thể biến gió và ánh sáng mặt trời thành vàng đem lại lợi ích to lớn cho cả châu Âu lẫn tổ chức mafia nổi tiếng ở Sicily là Cosa Nostra – đó là năng lượng tái tạo.

Sự dính líu của mafia đối với khu vực năng lượng mặt trời và gió hiện đang đặt ra những câu hỏi về tính hiệu quả trong việc sử dụng những khoản tiền trợ cấp của chính phủ nhằm mang lại sự thay đổi hướng đến các năng lượng sạch hơn và những người chỉ trích cho rằng, số tiền này đã tạo ra lợi nhuận rất lớn cho các công ty cũng như một môi trường thuận lợi cho sự lừa đảo có sự nhúng tay của mafia. Italia hiện là quốc gia sản xuất năng lượng gió lớn hàng thứ 3 ở châu Âu, cùng với sự bùng nổ của điện mặt trời, và phần lớn được phát triển ở miền Nam nước này. Do đó, Sicily thu hút mạnh mafia là điều khó tránh khỏi.

Phá hoại cạnh tranh hợp pháp
Do được thiên nhiên ưu đãi về gió và ánh nắng mặt trời hơn bất cứ phần nào khác của Italia nên đảo Sicily trở thành một trong những môi trường thuận lợi nhất của châu Âu để phát triển năng lượng tái tạo trong thập niên qua. Khi chính quyền Italia bắt đầu rót hàng tỉ USD mỗi năm trợ cấp cho việc phát triển năng lượng gió và mặt trời, khả năng sinh lợi tiềm tàng của những dự án như thế hiển nhiên tăng cao bất ngờ – một yếu tố mà các gia đình tội phạm mafia nổi tiếng ở Sicily đương nhiên không thể không nhìn thấy.
Khoảng 1/3 trong số các trại gió của Sicily – cùng với một nhà máy năng lượng mặt trời – đã bị chính quyền tịch thu. Giới chức chính quyền đã đóng băng khối tài sản trị giá 2 tỉ USD và ra lệnh bắt giữ khoảng chục trùm tội phạm, các thành viên hội đồng thành phố tham nhũng cũng như một số doanh nhân có liên quan đến mafia.
Các công tố viên Italia hiện đang nỗ lực điều tra sự dính líu của mafia trong các dự án năng lượng tái tạo từ đảo Sardinia đến vùng Apulia miền Nam Italia. Teresa Maria Principato, công tố viên chỉ huy Đội chống mafia của thành phố Palermo, cho biết: “Cosa Nostra đang cố gắng thu thập kiến thức về các lĩnh vực mới như là năng lượng tái tạo đang trở thành ngành kinh doanh lợi nhuận cao do được nhà nước trợ cấp. Mafia đang phủ trùm bóng tối lên công nghiệp năng lượng tái tạo của chúng ta”.
Do khu vực năng lượng tái tạo đòi hỏi phải có kiến thức khoa học cao cho nên mafia chủ yếu chỉ đóng vai trò trung gian trong bóng tối – tổ chức các hợp đồng, tìm mua đất, lo liệu các giấy phép cần thiết từ chính quyền cũng như tranh thủ các hợp đồng xây dựng. Và cuối cùng, nhu cầu tìm nguồn tài trợ từ chính phủ ngày càng tăng từ đó dẫn đến nạn đầu cơ tài chính, nói khác đi là mở ra một thị trường béo bở cho tội phạm có tổ chức. Kết quả là, sự dính líu của mafia trong khu vực kinh tế năng lượng sạch đã ngấm ngầm phá hoại sự cạnh tranh hợp pháp. Ngoài ra, theo các công tố viên, mafia còn lợi dụng môi trường đầu tư vào lĩnh vực năng lượng sạch để rửa tiền bẩn thu được từ các nguồn bất hợp pháp khác như là buôn lậu ma túy và vũ khí.
Thượng nghị sĩ Costantino Garraffa, thành viên Ủy ban Chống mafia của Quốc hội Italia, cũng nhận định mafia đang cố gắng thâm nhập vào ngành năng lượng tái tạo được chính phủ ưu đãi tài trợ để rửa tiền bẩn một cách dễ dàng. Jason Wright, Giám đốc Tổ chức An ninh Kroll, khẳng định: do năng lượng tái tạo phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài trợ nên khu vực này là miếng mồi ngon cho bọn tội phạm có tổ chức.
Nhưng điều quan trong nhất có lẽ là mafia đang phá hoại một ngành công nghiệp được coi là nguồn hiếm hoi cung cấp những việc làm mới cho một quốc gia đang nằm trong vòng xoáy của cuộc khủng hoảng nợ trong khu vực tạo một thách thức không nhỏ cho châu Âu. Để bảo đảm an toàn cho tương lai của khu vực đồng euro gồm 17 quốc gia châu Âu, các nhà kinh tế học cho rằng, Italia cần phải được hiện đại hóa nhanh chóng để theo kịp các quốc gia láng giềng có nền kinh tế mạnh như là Đức.
Thế nhưng, rào cản lớn nhất hiện nay là Italia phải chiến thắng được quyền lực của tham nhũng làm rối loạn thị trường và ngăn cản đầu tư. Sự đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Italia và Hy Lạp – hai quốc gia nạn nhân của cuộc khủng hoảng nợ – đã chậm lại rõ rệt và Tổ chức Minh bạch quốc tế xếp hai nước này vào hàng những nền kinh tế bị nạn tham nhũng chi phối nhiều nhất trong khu vực đồng euro.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đặt trụ sở ở Paris (Pháp), Italia đã nhận được khoản đầu tư nước ngoài đến 87 tỉ USD từ năm 2007 đến giữa năm 2012 – so với 183 tỉ USD ở Hà Lan, 289 tỉ USD ở Pháp và 502 tỉ USD ở Anh. Michele Polo, giáo sư kinh tế học Đại học Bocconi ở thành phố Milan, nhận xét: “Mafia đang làm bại hoại nền kinh tế Italia bằng việc xâm nhập vào các doanh nghiệp hợp pháp, làm thị trường trở nên kém minh bạch hơn và tạo nên một môi trường tham nhũng cho giới quan chức. Cuộc chiến chống tham nhũng, cũng như chống trốn thuế, là thách thức lớn nhất cho nền kinh tế Italia”.
Quan chức địa phương nhũng nhiễu không kém gì mafia
Các công tố viên Italia đang đương đầu với cơn bão các hoạt động bất hợp pháp của mafia, với việc các tổ chức tội phạm đang phát triển mối quan hệ quốc tế chặt chẽ hơn với các cartel ma túy Mỹ Latinh. Tình trạng này được coi là nguyên nhân gây ra nạn tham nhũng và sự không hiệu quả trong các dự án của chính phủ ở khu vực miền Nam đất nước.
Vào tháng 10/2012, toàn bộ Hội đồng thành phố Reggio di Calabria bị đình chỉ hoạt động để điều tra do cáo buộc liên quan đến gia đình tội phạm mafia khét tiếng ‘Ndrangheta. Còn ở Sicily, sự dính líu sâu của mafia vào nền kinh tế được vạch trần sau một loạt các vụ bắt giữ tội phạm đầu tiên diễn ra vào năm 2010. Sau khi thu thập được bằng chứng mới nhờ một mạng lưới chỉ điểm và các chiến dịch nghe lén, chính quyền Italia đã tiến hành một loạt các vụ bắt giữ lần thứ hai vào tháng 12/2012. Những tội phạm mới bao gồm doanh nhân ngành xây dựng Angelo Salvatore được cho là dính líu đến Vincenzo Funari, trùm 79 tuổi của gia đình mafia Gimbellina ở Sicily. Năm 2007, Angelo bị cảnh sát nghe lén cuộc nói chuyện với Funari về sự hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Theo hồ sơ tòa án, các biên bản nghe lén và các cuộc phỏng vấn những quan chức tham gia điều tra, sự dính líu của mafia trong lĩnh vực năng lượng tái tạo diễn ra theo con đường quen thuộc. Các gia đình tội phạm và giới doanh nhân nhắm đến mục tiêu là khu đất thích hợp để xây dựng các nhà máy năng lượng gió và mặt trời hòng gây sức ép lên chủ đất buộc phải bán hay cho thuê dài hạn. Sau đó, các quan chức tham nhũng tranh thủ sự phê chuẩn của chính quyền và tiếp cận các nhà đầu tư nước ngoài muốn hợp tác với chương trình tài trợ cho năng lượng xanh của Chính phủ Italia.
Sự dính líu của mafia còn gây cản trở cho sự đầu tư làm ăn hợp pháp vào khu vực công nghiệp năng lượng xanh ở Sicily. Đơn cử trường hợp của Salvatore Moncada – doanh nhân địa phương muốn tham gia các dự án năng lượng sạch một cách hợp pháp ở Sicily – được coi là câu chuyện có tính cảnh cáo cho các nhà đầu tư tiềm tàng khác. Moncada cho biết, ông tham gia phát triển năng lượng sạch vào cuối thập niên 90 thế kỷ trước, cuối cùng xây dựng được 6 trại gió, 10 công viên năng lượng mặt trời và một nhà máy sản xuất tấm pin mặt trời ở vùng ngoại ô Sicily. Nhưng khi né tránh những nỗ lực nhằm kiểm soát hoạt động kinh doanh của mafia – không hợp tác với các nhà phát triển có quan hệ với mafia và từ chối chia 2% lợi nhuận – doanh nghiệp của Moncada bị tấn công.
Năm 2007, bọn tội phạm đã phóng hỏa một trong những khu trại gió của Moncada gây thiệt hại đến 4 triệu USD. Năm 2009, gia đình tội phạm Terrasi âm mưu phá hoại một trong những trại gió mới thành lập của Công ty Năng lượng Moncada (MEG) bằng cách tuyên bố quyền sở hữu đối với khu đất – vụ việc dẫn đến 14 vụ bắt giữ và buộc Moncada và gia đình phải sống suốt 2 năm dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của cảnh sát.
Do quá khó khăn làm ăn ở Sicily nên cuối cùng Moncada buộc phải di chuyển doanh nghiệp của mình ra hải ngoại, đầu tư phát triển công nghiệp năng lượng sạch ở Mỹ, Nam Mỹ và Bắc Phi. Moncada cho biết: “Không chỉ có bàn tay của mafia, mà hệ thống quan chức tham nhũng ở địa phương cũng gây khó khăn cho việc làm ăn ở Sicily”.
Năm 2010, Cảnh sát Italia đã tịch thu khối tài sản khổng lồ trị giá đến 1,9 tỉ USD – được coi là lớn nhất từ trước đến nay ở quốc gia này – từ một doanh nhân có tiếng tăm ở Sicily tên là Vito Nicastri, hay còn gọi là “Vua năng lượng gió” do ông ta là nhà phát triển những trại năng lượng gió lớn nhất ở miền Nam Italia. Vito Nicastri bị buộc tội có quan hệ làm ăn bất chính với trùm mafia Matteo Messina Denaro của Sicily.
Beppe Ruggiero, quan chức Hiệp hội Chống mafia Libera, nhận xét: “Vụ tịch thu khối tài sản khổng lồ của Vito Nicastri cho thấy rõ tội phạm có tổ chức ở Italia rất quan tâm đến khu vực kinh doanh năng lượng tái tạo”. Tháng 7-2012, Raffaele Lombardo – lãnh đạo Sicily – buộc phải từ chức sau khi bị buộc tội dính líu đến mafia. Còn Salvatore “Toto” Cuffaeo – người tiền nhiệm của Lombardo – đang thụ án 7 năm tù sau khi bị buộc tội có quan hệ với tội phạm có tổ chức.
Với khả năng tài chính nghèo nàn và đang phải gánh một núi nợ, chính quyền Italia hiện nay phải hạn chế những khoản tiền trợ cấp mới cho khu vực năng lượng tái tạo. Một chương trình toàn quốc cũng được triển khai đòi hỏi các nhà phát triển năng lượng tái tạo phải cam kết có tuyên thệ chứng minh họ không dính dáng gì đến tội phạm có tổ chức.
Ở Sicily, nơi mà chính quyền mới chống mafia bắt đầu nắm giữ quyền lực vào tháng 11/2012, việc xây dựng phần lớn các dự án năng lượng tái tạo mới đã ngưng lại. Chính quyền mới đang tìm cách để bảo đảm mafia rút lui khỏi ngành năng lượng này trước khi cho phép các dự án mới được triển khai.

Cần lắm cuộc cách mạng năng lượng tái tạo

CUỘC CÁCH MẠNG NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TRONG THẾ KỶ 21

Đặng Quốc Toản (*)

PHẦN I – KHÁT VỌNG – TẦM NHÌN – CHIẾN LƯỢC

 Thế kỷ 20 là thế kỷ của cuộc cách mạng công nghiệp tiêu tốn một khối lượng năng lượng hóa thạch khổng lồ và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo của nhân loại, làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, gây ra hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên, gây ra biến đổi khí hậu và các thảm họa từ thiên nhiên. Chính vì vậy nhân loại thấy được cần phải có một cuộc cách mạng thay đổi về tư duy và nhận thức trong phát triển để bảo vệ trái đất, chính là bảo vệ môi trường sống của nhân loại và để tồn tại, phát triển trong khi những nguồn năng lượng hóa thạch sẽ cạn kiệt trong thời gian không xa vào giữa và cuối thế kỷ 21 này, cuộc cách mạng tất yếu đó là cuộc cách mạng về năng lượng tái tạo, nhiên liệu mới, tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Thời đại ngày nay là thời đại của năng lượng sạch “ A TIME FOR CLEAN ENERGY”. Cuộc cánh mạng về năng lượng tái tạo, năng lượng nhiên liệu mới đang tăng trưởng vượt bậc trong những năm qua sẽ đóng góp cho tăng trưởng và phát triển bền vững, bảo vệ môi trường  trái đất xanh, sạch, làm thay đổi bộ mặt của thế giới và mang lại sự thịnh vượng, hạnh phúc cho nhân loại trong thế kỷ 21.

Việt Nam có vị trí địa lý nằm ở trung tâm của Đông Nam Châu Á với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế tại Biển Đông hơn 1 triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền và là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng, gió, mưa rất nhiều có điều kiện tự nhiên đặc biệt tốt để phát triển về năng lượng tái tạo. Với tiềm năng to lớn như vậy việc phát triển các công viên khoa học công nghệ cao và kết nối với các công viên khoa học trong khu vực Châu Á và trên thế giới là rất cần thiết, để phục vụ cho việc nghiên cứu, sáng tạo, phát triển, chuyển giao công nghệ cho việc xây dựng nền móng và nội địa hóa cho ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, nhiên liệu mới phục vụ cho tăng trưởng và phát triển đất nước của Việt Nam với dân số gần 100 triệu người vào năm 2015 và gần 600 triệu người của cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN sẽ hình thành một thị trường chung có GDP hơn 2000 tỷ đô la đã đến rất gần. Với những bài học thành công của các nước phát triển đi trước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore… thì đây chính là một cơ hội và thời cơ tốt nhất cho tất cả các nhà đầu tư và các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng hợp tác đầu tư nghiên cứu phát triển sáng tạo, phục vụ cho thị trường to lớn đang tăng trưởng cao của các nước Đông Nam Á, đang hướng tới một nền kinh tế tăng trưởng xanh, bền vững và bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp để phát triển kinh tế, du lịch với những nền văn hóa phong phú đậm đà bản sắc Á Đông là điểm đến thân thiện, với thiên nhiên tuyệt đẹp và khí hậu ấm áp quanh năm là thiên đường nghỉ dưỡng, và khám phá về văn hóa, lịch sử, ẩm thực của thế giới đặc biệt trong những mùa đông băng giá của châu âu, và bắc Mỹ.

Việt Nam được các tổ chức năng lượng quốc tế và ngân hàng thế giới đánh giá là nước có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo, năng lượng gió với công suất dự báo hơn 513000 MW đứng đầu Đông Nam Á, với tốc độ gió tốt từ 6m/s trở lên, hàng chục dự án điện gió, điện mặt trời dọc theo bờ biển 3260km và các hải đảo của Việt Nam đã và đang được cấp phép đầu tư, đang triển khai, vận hành với tổng số vốn đăng ký tới hàng trăm triệu đôla, được các nước như Mỹ, châu Âu hỗ trợ về tài chính. Năng lượng mặt trời với độ bức xạ từ 4-6KW/h đang được các doanh nghiệp tự đầu tư cho nghiên cứu và sản xuất phục vụ cho miền núi, hải đảo, những nơi chưa có điện, cho ngư dân đánh cá, bảo vệ chủ quyền đất nước, cho quân đội với những quần đảo lớn ở biển đông như Trường Sa, Hoàng Sa cùng với hơn 3000 hòn đảo khác, và hơn 1 triệu hộ dân vùng biên giới, miền núi, nông thôn chưa có điện. Năng lượng thủy triều, sóng biển với tiềm năng rất to lớn để sản xuất điện sẽ phục vụ trực tiếp cho hàng triệu hộ dân lưu vực đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải. Nhiên liệu sinh học với tiềm năng to lớn về nguồn nguyên liệu để sản xuất như sắn hơn 10 triệu tấn/năm đứng thứ 5 thế giới, từ cỏ voi, cây Jatropha, phế phẩm nông nghiệp như bã mía, vỏ các loại hạt cà phê, cao su.. với công suất sản phẩm dự báo nhu cầu sử dụng nhiên liệu sinh học đến 2 triệu tấn ethanol, biodiesel E5-E10 vào năm 2025 và hiện tại đã có 6 nhà máy lớn với tổng công suất gần 500 triệu lít/năm đã xây dựng xong còn chờ chính sách xăng sinh học. Tiềm năng về khí sinh học, các phế phẩm từ nông nghiệp biomass gần 100 triệu tấn của một đất nước nông nghiệp sản xuất và xuất khẩu gạo, cà phê hàng đầu thế giới.

Việt Nam đứng trong số các nước hàng đầu có tiềm năng về năng lượng tái tạo ở Đông Nam Châu Á. Trong khi đó Việt Nam chưa đầu tư cho một khu công nghệ nào dành cho việc phát triển ngành công nghiệp năng lượng sạch có tiềm năng vô cùng to lớn này của đất nước, chính vì vậy sự ra đời của khu công viên khoa học công nghệ của thành phố HCM dành cho việc nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ phục vụ cho ngành năng lượng tái tạo, năng lượng mới là hoàn toàn đúng đắn và có tầm nhìn chiến lược, tuy có muộn so với các nước nhưng đây sẽ là bước khởi đầu cho sự đột phá của một ngành công nghiệp mới trong thế kỷ 21 sẽ mang lại lợi ích to lớn cho đất nước, làm tấm gương đi tiên phong cho cả nước học tập, đây sẽ là nơi tập trung trí tuệ của các nhà khoa học, trí thức và các chuyên gia trong và ngoài nước, các doanh nghiệp hàng đầu của ngành năng lượng tái tạo, năng lượng nhiên liệu mới, các trung tâm nghiên cứu, trường đại học với đội ngũ trí thức trẻ tương lai được đào tạo trong và ngoài nước là trụ cột để thành công trong thời đại nền kinh tế tri thức. Khu công viên khoa học năng lượng tái tạo sẽ là nơi tập trung mọi nguồn lực trong và ngoài nước để cùng tham gia đầu tư, nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo, hội thảo, triển lãm, trình diễn và ứng dụng cho các dự án của thành phố và của cả nước về ứng dụng, sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng mới, nhiên liệu sinh học, phát huy được đúng với tiềm năng to lớn  hàng đầu Đông Nam Á về năng lượng tái tạo, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, nhiên liệu sinh học của Việt Nam.

 

Để có được những thành công như mong muốn với chiến lược và tầm nhìn dài hạn cho các thế hệ tương lai của đất nước và xu hướng thế giới về sự bùng nổ của cuộc cách mạng năng lượng tái tạo, tăng trưởng bền vững và nền kinh tế tri thức trong thế kỷ 21 thì việc hợp tác quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ để rút ngắn thời gian cho sự đột phá là vô cùng quan trọng. Việt Nam phải có chính sách đặc biệt để thu hút và đãi ngộ nhân tài là yếu tố quyết định đến sự thành công của khu công viện khoa học của thành phố. Thành phố HCM cần học tập các nước đi trước đã rất thành công như CHLB Đức, Nhật Bản, Thailand, Ấn Độ. Chỉ riêng năm 2007 Singapore đã thu hút được hai dự án lớn nhất thế giới về nhà máy sản xuất pin NLMT $5,3 tỷ với REC Norway và nhà máy Biodiesel với Nestle oil $810 triệu, và một công viện năng lượng tái tạo hơn $1 tỷ vừa hoàn thành năm 2012 để cung cấp năng lượng sạch và phục vụ du lịch. Trong khi tiềm năng của miền nam Việt Nam lớn gấp hàng chục lần Singapore vẫn chưa được đầu tư để phát triển. Thành phố Hồ Chí Minh cần đầu tư mạnh các nguồn lực cho nghiên cứu phát triển và dành quĩ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các trí thức Việt Kiều sẽ về làm việc, đầu tư và sinh sống gần với khu công viên khoa học bên bờ sông Sài Gòn với điều kiện tốt nhất và ưu đãi nhất để họ có một môi trường lý tưởng cho việc phát huy hết tư duy sáng tạo và đóng góp trí tuệ, các nguồn lực xây dựng thành phố và đất nước ta giầu mạnh, hùng cường hướng ra biển lớn trong thế kỷ của đại dương.

Hội nghị Power Industry Vietnam 2012 do ITE tổ chức tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của NLTT đóng góp trong tổng sơ đồ năng lượng của Việt Nam.

PHẦN II – TRỞ NGẠI – GIẢI PHÁP – HÀNH ĐỘNG

 

Với như cầu tăng trưởng cao của Việt Nam và nhu cầu về năng lượng to lớn trong giai đoạn tới từ 2012-2020 Việt Nam mỗi năm cần bổ sung thêm 4000MW và sẽ thiếu hụt nguồn cung cấp năng lượng ngay từ năm 2013 như EVN vừa dự báo có thể sẽ phải bù lỗ đến 7000 tỷ đồng phát điện bằng diesel do thiếu nước các hồ thủy điện, trong khi điện diesel giá thành rất cao khoảng $30cent/kwh thì giải pháp điện gió là khả thi nhất cho những năm tới vì chỉ cần chính phủ điều chỉnh tăng giá mua điện gió từ $7,8 Cent hiện nay lên đến $12 cent và nhanh chóng đầu tư hệ thống truyền tải điện là lập tức các nhà đầu tư tư nhân sẽ bỏ tiền để đầu tư các nhà máy điện gió mà nhà nước sẽ không cần phải đầu tư, vừa tiết kiệm vốn ngân sách của nhà nước vừa giảm chi phí hơn một nửa so với phát điện bằng diesel, vừa cung cấp được một nguồn điện sạch, giảm thiểu phát điện bằng diesel, và điện nhập khẩu từ Trung Quốc, thúc đẩy mạnh mẽ nội địa hóa công nghệ điện gió để giảm giá và xuất khẩu thiết bị, tạo ra rất nhiều việc làm và những ngành công nghiệp phụ trợ cho điện gió, đóng góp tới trên 5% hơn 3000MW trong tổng nhu cầu năng lượng đến 2020, đưa Việt Nam vào các nước dẫn đầu Châu Á về điện gió. Các ngân hàng quốc tế như WB, ADB, US Eximbank, KFW.. đang sẵn sàng cho các dự án điện gió có hiệu quả vay vốn đầu tư, chính phủ cần nhanh chóng ban hành chính sách hỗ trợ mạnh mẽ cho điện gió để thu hút nguồn vốn này.

Một nguồn điện lớn nữa đang rất lãng phí do chính sách mua điện của nhà nước quá thấp, quá chậm là điện Biomass, Biogas và điện từ rác thải sinh hoạt hiện được EVN mua với giá $4cent/kwh do vậy 41 nhà máy mía đường, và hàng chục vạn trang trại lớn nhỏ với gần 100 triệu tấn phân gia súc thải thẳng ra môi trường vì không dám đầu tư phát điện do bị lỗ nặng, trong khi một đất nước nông nghiệp như Việt Nam với gần 100 triệu tấn rơm, rạ, trấu, vỏ các loại hạt, phế thải từ lâm nghiệp, các doanh nghiệp đều không dám đầu tư nhà máy điện Biomass vì chính sách giá điệu mua quá thấp, trong khi điện nhập khẩu từ Trung Quốc tăng từ 200 triệu Kwh năm 2005 lên hơn 4 tỷ KWh năm 2012 với giá tăng cao từ 5-$7cent và bị phạt do dùng ít, dùng nhiều hơn, và tổn thất truyền tải đã đưa giá điện này cao hơn nhiều. Do vậy việc giảm và dừng phụ thuộc vào điện nhập khẩu của Trung Quốc cần làm ngay, để phát huy tinh thần tự lực và xây dựng biểu giá FIT tăng giá ngay cho điện Biomass, Biogas, rác thải như điện gió là việc làm vô cùng cấp bách để tiềm năng hơn 1000MW của loại điện này được khai thác ngay, sẽ bảo vệ môi trường thiết  thực nhất vì hàng chục vạn trang trại, làng nghề, các nhà máy sẽ không xả thải khí biogas lên trời, và đầu tư hệ thống phát điện từ bã mía, trấu, biogas, rác thải…sản xuất điện cung cấp tại chỗ cho ngay cho các trung tâm phụ tải của đất nước, giảm tải và tổn thất truyền tải điện cho lưới điện, tạo ra hàng vạn việc làm cho xã hội, bảo vệ môi trường đất, nước, không khí đang rất ô nhiễm do chất thải này và góp phần giảm ngay nạn thất nghiệp như hiện nay gây bất ổn xã hội.

Nhà nước cần xây dựng sớm và ban hành bộ luật Năng Lượng Tái Tạo với sự đóng góp ý kiến của các hiệp hội năng lượng, các tổ chức trong nước và quốc tế, các chuyên gia, các nhà khoa học để có luật hòa lưới điện NLTT và chính sách hỗ trợ rõ ràng cho NLTT, nhanh chóng mở cửa cho ngành năng lượng tái tạo có tiềm năng to lớn này bùng nổ với sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế và toàn dân cùng sản xuất điện để tự đảm bảo về năng lượng cho mình giảm tải lưới điện cho nhà nước và luôn luôn chủ động trong mọi sự biến đổi của xã hội về thiên tai, bão lụt, thảm họa. Nhà nước sử dụng những nguồn quĩ cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững của các tổ chức quốc tế cho Việt Nam vay để cho các hộ dân vay lại với lãi suất ưu đãi và không lãi trong 5-10 năm như nước châu âu đang làm, nhưng một mái nhà ở Việt Nam chỉ cần đầu tư bằng 1/20 so với họ khoảng từ 2000-4000USD. Các quĩ này sẽ kích thích các hộ dân các thành phố tự đầu tư điện mặt trời hòa lưới, dự phòng giảm tải ngay lưới điện và chấm dứt sử dụng máy phát điện diesel ô nhiễm, chi phí cao. Trong khi nhà nước chưa kịp ban hành được biểu giá FIT hỗ trợ tiền mua điện mặt trời của dân và các tổ chức phát lên lưới, như các nước, thì giải pháp tính giá điện cho các hộ sản xuất điện mặt trời với giá cao điểm nhất, sử dụng hai đồng hồ đếm điện và có thể cho các hộ phát điện mặt trời hòa lưới sử dụng ban ngày dư thừa gửi lên lưới rồi buổi tối được lấy về sử dụng đúng bằng số điện đã gửi đó mà không phải trả tiền. Chính sách này sẽ làm bùng nổ ngay về điện hòa lưới tại các thành phố, và giảm tải, tiết kiệm cho nhà nước hàng tỷ đola đầu tư các nhà máy điện và đường dây tải điện, tạo ý thức tiết kiệm và sự chủ động về năng lượng của người dân.

Với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ của cả nước, hơn một triệu hộ dân vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, nông thôn, miền núi còn thiếu điện thì giải pháp sử dụng điện mặt trời, điện gió, điện biomass, biogas tại chỗ, để thay thế cho máy phát điện diesel, và giảm nhiều lần chi phí đầu tư so với kéo đường dây điện tới những nơi biên giới, miền núi, hải đảo vừa không khả thi, tốn kém và mất hàng chục năm chờ đợi. Việc triển khai các dự án điện mặt trời, điện gió, thuỷ điện nhỏ cho miền núi, hải đảo thực hiện rất nhanh và giảm ngay tiền đầu tư của ngân sách cho việc kéo đường dây điện tới những vùng này, ngoài ra cả một giải pháp tổng thể rất sáng tạo về xây dựng những hồ chứa nước mưa trên núi, núi đá theo bậc thang như Israel đã từng làm để giữ nước, cho mùa khô và chăn nuôi, trồng trọt, sử dụng túi đựng nước mưa cho niền núi, hải đảo và các thành phố để giữ nước chống ngập lụt, chống nóng, chống thiếu nước, chống hút nước ngầm, giảm chi phí đầu tư so với nước ngoài đến 50 lần, tiết kiệm hàng tỷ khối nước mưa, hàng trăm triệu đola mỗi năm, nâng cao được ý thức tiết kiệm, kiến thức về sử dụng nắng, mưa, gió an toàn, tiết kiệm, tạo ra rất nhiều việc làm. Hàng triệu bộ đèn LED hiệu suất cao, đèn năng lượng mặt trời tiết kiệm năng lượng sẽ thắp sáng cho ngư dân, biển đảo, biên cương của đất nước, được thay thế cho đèn đường thủy ngân độc hại lãng phí điện ở các thành phố và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác để tiết kiệm điện, các thiết bị tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm điện, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, xử lý môi trường nước, không khí, sử dụng nước mưa, nước thải qua xử lý…

Về nhiên liệu sinh học, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới có nguồn nguyên liệu dư thừa cho xuất khẩu thô là sắn lát, với sản lượng sắn tươi khoảng 10 triệu tấn/năm, và xuất khẩu năm 2012 hơn 3 triệu tấn sắn lát khoảng 1 tỷ đola. Tiềm năng to lớn cho sản xuất nhiên liệu sinh học để giảm nhập khẩu xăng, dầu, giảm ô nhiễm môi trường và giảm giá thành xăng sinh học. Nhưng cũng lại do chính sách của Việt Nam đến cuối 2014 mới pha xăng E5, khác với các nước trong khối Asean như Thái Lan, Philippin, Indonesia…họ ban hành chính sách rồi nhập Ethanol về pha xăng sinh học E10-E20, sau đó các nhà đầu tư mới bỏ tiền ra đầu tư nhà máy sản xuất Ethanol, Biodiesel. Các nhà đầu tư của Việt Nam dũng cảm đi tiên phong đầu tư nhà máy để theo kịp các nước Asean vừa ra đời thì đã có nguy cơ phá sản. Trong khi người dân các nước Asean đang hưởng lợi từ xăng sinh học E20-E85 giá rẻ và bảo vệ môi trường các thành phố, và sức khỏe người dân của họ, mặc dù họ đi ôtô chứ không phải hít khói bụi như hơn 30 triệu người lái xe máy ở nước ta, hàng năm bệnh phổi tăng rất cao. Thái Lan là bài học hay nhất khi thu nhập đầu người cao nhưng giá taxi chạy xăng sinh học, LPG, CNG chưa bằng một nửa Việt Nam. Các nhà máy Ethanol ra đời vừa tạo ra thu nhập từ trồng sắn cho hàng vạn hộ gia đình nghèo, vừa giảm xuất khẩu sắn thô, tiết kiện ngoại tệ nhập xăng dầu, tạo ra lợi ích về mọi mặt cho môi trường, cho nền kinh tế, giao thông vận tải, đang rất cần nhà nước tháo gỡ ngay và hỗ trợ vốn. Vì đây là những ngành mới ra đời và cực kỳ quan trọng với đất nước trong lai. 

Cuộc cách mạng về năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học kỷ 21 này sẽ là cuộc cách mạng của thế hệ trẻ, và các thế hệ tương lai của đất nước khi không còn những nguồn năng lượng khác, cuộc cách mạng này sẽ đóng góp cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của Việt Nam, tiết kiệm hàng tỷ đôla cho đất nước mỗi năm, tạo ra hàng triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp, là cánh tay của đất nước trong việc chống lại biến đôi khí hậu, giảm hiệu ứng nhà kính, chống ngập lụt, hạn hạn, và sự nóng lên của các thành phố, tiết kiệm năng lượng khi sử dụng năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học. Thúc đẩy và hỗ trợ mạnh mẽ cho các ngành kinh tế khác phát triển như nông nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, kinh tế biển đảo, bảo đảm về an ninh năng lượng và an ninh quốc phòng cho đất nước, khai thác đúng thế mạnh, lợi thế cạnh tranh, tiềm năng to lớn của đất nước ta và theo kịp xu thế phát triển tăng trưởng xanh, bền vững của thế giới, đưa Việt Nam vào trong số các nước phát  triển xanh sạch và bền vững trên thế giới. Để đạt được điều này chúng ta cần phải có một bộ máy đủ mạnh, đủ tầm, đủ tâm, đủ tài và tập hợp được các chuyên gia, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, để cùng chung sức vì lợi ích chung của tổ quốc là trên hết, để sẵn sàng đảm bảo an ninh năng lượng trong mọi tình huống của đất nước, không bị phụ thuộc, bị động. Xây dựng một đất nước giầu mạnh, xanh sạch,và trong sạch là khát vọng của tuổi trẻ Việt Nam.

(*) CEO- Asiapetro, Thành viên sáng lập hiệp hội Nhiên Liệu Sinh học và Năng Lượng Tái Tạo Việt Nam.

Ủy viên ban chấp hành hiệp hội công nghiệp môi trường miền nam.

Lãnh đạo thế giới cam kết thúc đẩy năng lượng tái tạo

Phát triển năng lượng tái tạo là thông điệp mà nhiều nguyên thủ quốc gia đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh về năng lượng trong tương lai của thế giới, khai mạc ngày 15/1 tại thủ đô Abu Dhabi của Các tiểu Vương quốc Arập thống nhất.

Tổng thống Pháp Francois Hollande cho rằng thế giới cần đầu tư nhiều hơn cho các dự án năng lượng tái sinh nhằm chuẩn bị cho “kỷ nguyên hậu dầu mỏ”, giảm thiểu tình trạng Trái Đất nóng lên, và tránh làm tăng giá dầu mỏ trên thị trường thế giới.

Ông cảnh báo thế giới sẽ gặp thảm họa nếu không đầu tư cho năng lượng tái sinh vì không đầu tư phát triển lĩnh vực này sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng nhiên liệu hóa thạch, khiến giá mặt hàng tăng cao đến mức không chấp nhận được và làm tăng nguy cơ Trái Đất nóng dần lên.

Thừa nhận những khó khăn kinh tế mà các nước phải đối mặt trong giai đoạn hậu khủng hoảng hiện nay, song Tổng thống Hollande vẫn kêu gọi các nước cùng đóng góp tài chính để triển khai các dự án phát triển năng lượng bền vững, ước tính lên tới 300 tỷ USD trong năm nay. Ông đồng thời đề xuất thành lập các quỹ chung giữa các nước sản xuất và tiêu thụ dầu mỏ cho mục đích phát triển năng lượng tái sinh. Tổng thống Hollande cho biết Pháp muốn việc thay đổi các nguồn năng lượng phải là sự nghiệp của mọi quốc gia, của châu Âu và toàn thế giới.

Trong khi đó, Tổng thống Argentina Christina Fernandez de Kirchner nhấn mạnh mọi nước trên thế giới cần chia sẻ trách nhiệm đóng góp cho các quỹ phát triển năng lượng tái sinh, nhưng không dựa trên cơ sở “cào bằng.” Bà khẳng định các nước phát triển phải chịu phần đóng góp chính do lượng khí thải từ sử dụng năng lượng của những nước này cao hơn nhiều so các nước nghèo, đồng thời tuyên bố các nước Mỹ Latinh và vùng Caribe chỉ chịu trách nhiệm về 5% lượng khí thải độc hại.

Thái tử nước chủ nhà Sheikh Mobammed bin Zayed al-Nahayan cho biết Abu Dhabi đã chuẩn bị sẵn sàng để vượt qua những thách thức mà quốc gia nhiều dầu mỏ này sẽ phải đối mặt trong kỷ nguyên năng lượng tái sinh.

Hoàng hậu Rania của Jordan kêu gọi tìm kiếm các giải pháp bền vững cho các nhu cầu về năng lượng với lý do nếu không có các giải pháp như vậy, thế giới sẽ đạt tiến bộ chậm chạp và không thường xuyên trong quá trình thay đổi các nguồn năng lượng. Bà nhấn mạnh cho đến nay, khoảng 1,4 tỷ người, tức 20% dân số thế giới, vẫn chưa tiếp cận với điện lưới và viễn cảnh này là không thể có được đối với một tỷ người nữa.

Các nhà tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về năng lượng trong tương lai của thế giới cho biết khoảng 257 tỷ USD đã được sử dụng cho các dự án năng lượng tái sinh trên khắp thế giới trong năm 2011.

Cơ quan Năng lượng tái sinh quốc tế (IRENA) đóng trụ sở tại Abu Dhabi ngày 14/1 vừa qua đã công bố lộ trình toàn cầu mới nhằm tăng cường các nỗ lực tăng gấp đôi nguồn năng lượng sạch vào năm 2030, nhưng cảnh báo tiến trình này phải được thúc đẩy mạnh nếu muốn đi đến thắng lợi.

Các nguồn năng lượng sạch mà IRENA đề cập gồm năng lượng mặt trời, phong điện và năng lượng sinh học.