Ông chủ TTC mong muốn chính phủ tháo gỡ khó khăn cho phát triển điện mặt trời

Lãnh đạo Vingroup, Thaco, Thành Thành Công muốn Chính phủ hỗ trợ phát triển ôtô điện, nông nghiệp, năng lượng tái tạo và mía đường. 

Tại cuộc đối thoại sáng 23/12, nhiều doanh nghiệp gửi tới Thủ tướng và các thành viên Chính phủ kiến nghị về thuế, tiếp cận vốn cũng như các vấn đề về chính sách hiện nay. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lắng nghe và cẩn trọng ghi chép từng ý kiến của các doanh nhân.

Vingroup muốn giống Tesla

Ông Nguyễn Việt Quang – Tổng giám đốc Tập đoàn Vingroup mong Chính phủ có chính sách thuế, phí để tập đoàn này phát triển ôtô điện, giống Tesla. Ông cho biết, tập đoàn vừa thoái vốn khỏi lĩnh vực bán lẻ, nông nghiệp để tập trung vào phát triển công nghiệp, công nghệ, nhất là sản xuất ôtô, dù “biết đi theo hướng mới sẽ đối mặt với nhiều khó khăn”. Chính thương hiệu xe điện của Tesla, theo ông Quang, cũng mới có lãi gần đây sau 10 năm có mặt trên thị trường.

Lãnh đạo Vingroup cho biết VinFast đang đẩy mạnh nghiên cứu, thiết kế và sẽ sớm đưa ra thị trường ôtô điện và xuất khẩu sang Mỹ từ năm 2021. Riêng năm 2020 sẽ có thêm 4 dòng máy điện mới, một mẫu xe bus điện, 2 mẫu ôtô điện.

Việc chuyển hướng phát triển mạnh vào ôtô điện, CEO Vingroup tin sẽ giúp giảm nguồn thải từ các phương tiện giao thông, cũng như cải thiện chất lượng không khí, bảo vệ môi trường. 

Ông Nguyễn Việt Quang - Tổng giám đốc Vingroup. Ảnh: Ngọc Thắng

Cụ thể, cần phải có một hệ thống chính sách đồng bộ, khuyến khích cả nhà sản xuất, phân phối và người tiêu dùng, cũng như xây dựng một hệ sinh thái thân thiện cho phương tiện chạy điện trong tương lai. Như vậy, các doanh nghiệp sản xuất ôtô trong nước mới đủ tự tin tạo ra sản phẩm “made in Vietnam”. Tuy nhiên, tập đoàn này mong nhận được hỗ trợ chính sách từ Chính phủ, nhất là về thuế, phí để “khởi nghiệp thuận lợi hơn trong lĩnh vực có quá nhiều cạnh tranh như ôtô, đặc biệt là ôtô điện”.

Thaco kêu khó vay vốn nông nghiệp

Ông Trần Bá Dương – Chủ tịch Công ty cổ phần Ôtô Trường Hải (Thaco) lại đề cập việc nhiều ngân hàng thương mại e ngại cho vay trong khi tiềm năng của ngành nông nghiệp còn rất lớn.

Theo ông, doanh nghiệp cần vốn để sản xuất quy mô lớn, toàn cầu. “Nếu chỉ trồng chuối 50-100 ha thì sản lượng không ổn định cho xuất khẩu. Không thể chỉ xuất khẩu 5 container một ngày mà cần nhiều hơn thế. Quy mô lớn là một điểm mạnh và cơ hội trong thời gian tới”, ông nói. 

Ông Trần Bá Dương - Chủ tịch  ty cổ phần Ôtô Trường Hải. Ảnh: Bảo Nguyễn 

Đáp lại sau đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, trong số các lĩnh vực, nông nghiệp, sản xuất luôn được nhà băng ưu tiên rót vốn. Ông khẳng định sẽ đề nghị các ngân hàng tháo gỡ, tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn dễ dàng hơn.

Thành Thành Công sốt ruột với chính sách điện mặt trời

Ông Đặng Văn Thành – Chủ tịch Tập đoàn Thành Thành Công cho rằng, năm 2019 chứng kiến sự phát triển sôi động của điện mặt trời với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân cùng chính sách giá khuyến khích 9,35 cent/kWh theo Quyết định 11/2017.

Nhờ đó, đến hết tháng 6, cả nước đã có 98 dự án năng lượng tái tạo, tổng công suất gần 5.000 MW được đưa vào vận hành, trong đó 89 nhà máy điện mặt trời, công suất xấp xỉ 4.500 MW. Song con số này đã vượt xa quy hoạch điện VII điều chỉnh (chỉ 850 MW điện mặt trời). Trong khi đó, sau 30/6 – khi Quyết định 11/2017 hết hiệu lực, vẫn chưa có cơ chế giá mới.

Ông kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương sớm có cơ chế giá khuyến khích điện mặt trời và tháo gỡ những vướng mắc của Luật Quy hoạch với bổ sung quy hoạch. Cùng đó, cải thiện hệ thống truyền tải lưới điện quốc gia để giải toả công suất các dự án điện mặt trời khi hoà lưới.

“Có cơ chế giá mới cho điện mặt trời các nhà đầu tư sẽ khai thác tối ưu nguồn năng lượng, đáp ứng tiêu dùng điện ngày càng tăng và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia”, ông Thành nhận xét.  

Ngoài năng lượng, ông Thành cũng bày tỏ lo lắng ngành mía đường trong nước sẽ mất thị trường nội địa khi thuế ATIGA giảm về 0-5% từ 1/1/2020. Khi chỉ còn hơn chục ngày nữa, các doanh nghiệp mía đường trong nước, trong đó có Thành Thành Công vẫn lo lắng sẽ mất thị phần nội địa nếu thuế giảm. “Vì uy tín của ngành mía đường Việt Nam, chúng tôi mong Thủ tướng, Chính phủ có chính sách hỗ trợ để nông dân tồn tại được trên mảnh đất của họ”, ông nêu.

Đáp lại sau đó, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, “không thể lùi thêm” thời hạn thuế ATIGA có hiệu lực. Thừa nhận ngành mía đường trong nước đang đứng trước thách thức song Phó thủ tướng đề nghị doanh nghiệp “phải cải cách mạnh mẽ để thích ứng”.

Điện mặt trời : giải pháp hữu hiệu giải quyết nguy cơ thiếu điện ở Việt Nam

Khi nguồn thuỷ điện đã hết, điện than cần hạn chế thì nguồn điện khí và năng lượng tái tạo cần phải xem xét để đáp ứng nhu cầu.

Nhìn lại tình hình sản xuất và cung ứng điện trong 8 tháng qua có thể thấy, lượng điện thương phẩm đã tăng trưởng gần 10% so cùng kỳ 2018.

Bộ Công Thương dự kiến, việc cung cấp điện năm 2020 về cơ bản đáp ứng được nhưng tiếp tục tiềm ẩn một số rủi ro, có thể đối mặt với nguy cơ thiếu điện trong các tình huống cực đoan khi nhu cầu phụ tải cao hơn dự báo, lưu lượng nước về các hồ thủy điện kém, thiếu hụt nguồn nhiên liệu than, khí cho sản xuất điện…

Chưa nhìn thấy nguồn điện mới khả thi

Báo cáo của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cũng cho thấy, do nhiều dự án nguồn điện lớn bị chậm tiến độ so với quy hoạch, đặc biệt các nguồn điện BOT, các dự án nhiệt điện than… nên hệ thống sẽ thiếu điện trong cả giai đoạn 2021-2025 (mặc dù đã phải huy động tối đa các nguồn điện, kể cả các nguồn điện chạy dầu).

Trong khi đó, ước tính sản lượng điện thiếu hụt năm 2021 khoảng 6,6 tỷ kWh, đến năm 2022 tăng lên khoảng 11,8 tỷ kWh, năm 2023 có thể lên đến 15 tỷ kWh (tương ứng xấp xỉ 5% nhu cầu).

Về phát triển năng lượng tái tạo, theo ông Phương Hoàng Kim, Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, tổng công suất điện mặt trời (ĐMT) theo đề xuất của các nhà đầu tư đã lên đến khoảng 25.000 MW, các dự án điện gió với tổng công suất khoảng 16.500 MW. Tính đến hết tháng 6, đã có tổng số 89 nhà máy ĐMT đưa vào vận hành với tổng công suất gần 4.500 MW.

“Đây là nguồn điện đã bổ sung kịp thời cho hệ thống điện quốc gia, góp phần đảm bảo cung cấp điện trong 6 tháng đầu năm 2019. Tuy nhiên, với hiện trạng cơ sở hạ tầng hiện có, trong một số thời điểm, lưới điện 500-220-110kV thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Đăk Nông, Đăk Lăk bị quá tải, ảnh hưởng đến việc vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định”, ông Kim thông tin.

Là đơn vị được Chính phủ giao cung cấp điện, điều mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lo lắng nhất chính là đảm bảo đủ nguồn. Ông Võ Quang Lâm, Phó Tổng giám đốc EVN cho biết, hiện tại, tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống điện là 48.000 MW song mức độ khả dụng chỉ là 39.000 MW.

“Với tốc độ tăng trưởng sử dụng điện trên 10%/năm, nghĩa là năm 2020 phải có thêm khoảng 4.000 MW nữa, tương đương cần 43.000 MW, không biết lấy đâu để sẵn sàng”, ông Lâm nêu khó khăn.

Xung quanh câu chuyện nguồn điện của Việt Nam, ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng, từ nay tới năm 2021, Việt Nam chưa nhìn thấy nguồn điện nào mới khả thi.

 Chính vì thế, Việt Nam cần nghiên cứu chi tiết và buộc phải đa dạng hoá nguồn điện, nhất là khi nguồn thuỷ điện đã hết, điện than cần hạn chế; điện gió, điện mặt trời tốt nhưng còn tác động mạnh về giá điện. Và trong bối cảnh hiện tại, nếu không phát triển điện hạt nhân thì nên xem xét thêm nguồn về điện khí.

Nguồn nào cũng có cái khó riêng

Phát triển bùng nổ thời gian qua, song điện mặt trời thực tế lại chỉ đáp ứng được lượng điện khá khiêm tốn trong tổng nhu cầu. Theo quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất điện mặt trời mới đạt 850 MW nhưng thực tế hiện nay đã đạt 4.500 MW và sang năm, con số này dự kiến sẽ lên tới 7.700 MW. Con số thực đi xa hơn khá nhiều so với con số quy hoạch.

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cho biết, sau khi có các cơ chế về giá ưu đãi đối với điện mặt trời, điện gió, các dự án điện năng lượng tái tạo này phát triển quá nhanh. Để đầu tư 1 dự án điện mặt trời với công suất 50-100MW chỉ mất khoảng 6 tháng, nhưng việc đầu tư lưới điện truyền tải với đường dây 500kV phải mất 3 năm, đường dây 220kV mất 2 năm. Do vậy, việc phát triển lưới điện truyền tải không theo kịp tiến độ đầu tư các dự án điện mặt trời.

Theo ông Võ Quang Lâm, đến tận năm 2025, dự báo tăng trưởng nhu cầu sử dụng điện vẫn là trên 10%/năm. Để đáp ứng nhu cầu về điện, cơ cấu các nguồn điện truyền thống cần được quan tâm đúng mức, nghiêm túc. Hiện nay, năng lượng truyền thống hiện chỉ còn nhiệt điện than và nhiệt điện khí có thể nhìn tới.

Dù vậy, ông Lâm cũng bày tỏ lo ngại bởi việc khai thác than của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc hiện nay khá khó khăn, công suất không lên được trong khi giá lại tăng lên, dẫn tới phải nhập khẩu than, khí.

“Nhập khẩu khí dạng hoá lỏng bằng tàu lại cần có cảng nước sâu nên phát sinh rất nhiều khó khăn, nên phải trông chờ vào đầu tư lớn, dài hạn thì chủ mỏ khí mới quyết định mở mỏ bởi mỏ khí cần đầu tư 5-7, thậm chí 10 năm mới có khí. Do vậy, cần phải tính toán quy hoạch sớm, chỗ nào làm được nhà máy khí, chỗ nào làm nhiệt điện than”, ông Lâm nói.

Theo chuyên gia năng lượng Nguyễn Văn Vy, Phó Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam (VEA), mặc dù các nguồn năng lượng trong đó có điện từ nay đến năm 2020 không đáng lo ngại, nhưng giai đoạn sau năm 2020, với hàng loạt các công trình, dự án đang chậm tiến độ cho thấy nguy cơ thiếu điện khá rõ ràng đòi hỏi các cơ quan quản lý cần tính toán lại.

“Điện mặt trời có thể xây dựng rất nhanh, nếu có cơ chế đặc biệt và phê duyệt nhanh thì từ lúc lập tự án cho đến khi đưa vào vận hành chỉ trong vòng 1 năm. Cho nên khi tính toán, nếu thấy có khả năng thiếu điện tổng thể hay vùng nào thiếu điện, ngành điện có thể tập trung các dự án năng lượng tái tạo tại khu vực đó để đảm bảo cung cấp điện”, ông Vy nêu quan điểm.

Công nghệ mới giúp lưu trữ điện từ Năng lượng tái tạo

Tìm hiểu về năng lượng tái tạo

Sài Gòn : Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng tái tạo

Mỗi năm, TPHCM tiêu thụ khoảng 22 tỷ kWh điện năng, chiếm khoảng 15% so với cả nước. Từ đầu năm 2018 đến nay, TPHCM đã triển khai các hạng mục quan trọng trong đề án xây dựng thành phố thông minh giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2025. 

Đây là đề án được triển khai trong bối cảnh bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Sử dụng năng lượng thông minh cũng là một trong các trụ cột hướng tới đô thị thông minh, bao gồm các yếu tố sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. 

Hướng đi tất yếu

Trong kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm môi trường giai đoạn 2016-2020, TPHCM đã đặt mục tiêu chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới lên trên 1,74% tổng công suất tiêu thụ trên toàn thành phố. Đến nay, công suất lắp đặt pin mặt trời trên địa bàn thành phố ước tính đạt 2MWp, trong đó 1.838,2kWp đã nối lưới, được phân bố ở các đối tượng chính là tòa nhà các cơ quan và doanh nghiệp – đạt 1.607,2kWp (chiếm 87,5%); hộ gia đình 231kWp (chiếm 12,5%).

Theo đánh giá của các chuyên gia, TPHCM không có nhiều diện tích đất cũng như địa hình phù hợp để phát triển các công trình sản xuất điện quy mô lớn như thủy điện hay nhiệt điện, điện hạt nhân. Vì thế, phát triển năng lượng mặt trời và tiết kiệm năng lượng là hướng đi TPHCM nên lựa chọn. Ông Phạm Trần Hải, Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM, cho rằng để đạt được các mục tiêu trong sử dụng năng lượng hiệu quả và phát triển năng lượng tái tạo, vấn đề này cần được lồng ghép một cách phù hợp vào các chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch khác nhau của thành phố, để huy động được sự tham gia đóng góp của các ngành, lĩnh vực, các thành phần xã hội.

Ghi nhận tại một số hộ dân đã lắp đặt pin mặt trời cho thấy, người dân rất chủ động và hào hứng với việc sử dụng nguồn năng lượng xanh này. Nhiều người cho biết, sử dụng điện mặt trời không chỉ giảm được chi phí tiêu thụ điện mà còn góp một phần nhỏ cùng thành phố trong việc tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường.

Chị Nguyễn Thị Kim Ánh (cư ngụ tại nhà số 81 đường Bành Văn Trân, quận Tân Bình) cho biết, gia đình chị đã đầu tư 12 tấm pin điện mặt trời với kinh phí 70 triệu đồng. Sau thời gian sử dụng, mỗi tháng gia đình chị tiết kiệm được từ 800.000 – 900.000 đồng tiền điện và quan trọng hơn là nguồn điện rất ổn định, không phải lo bị cắt hay cúp để sửa điện theo kế hoạch ngành điện.

Chú Trương Văn Cường (ngụ tại 477/3/14 Âu Cơ, quận Tân Phú) cũng chia sẻ đã đầu tư hệ thống điện mặt trời cho gia đình là 167 triệu đồng. Mỗi tháng, gia đình tiết kiệm được khoảng 500kW điện. Đầu tư điện mặt trời chi phí ban đầu tuy có lớn nhưng về lâu dài sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng; mặt khác còn góp một phần nhỏ trong kế hoạch kêu gọi sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để thích ứng với biến đổi khí hậu.

Kêu gọi đầu tư các dự án đốt rác phát điện

Theo Sở TN-MT TPHCM, tổng công suất năng lượng tái tạo trên địa bàn tính đến thời điểm hiện nay là 35,4MW, so với nhu cầu phụ tải lớn nhất toàn thành phố là 3.575MW. Để đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, thành phố đã và đang đẩy mạnh triển khai các giải pháp đa dạng hóa nguồn cung năng lượng.

Theo đó, từ năm 2005, thành phố đã phát điện Nhà máy điện Gò Cát từ công nghệ đốt rác với công suất khoảng 2,4MW và sắp đưa vào vận hành Nhà máy điện rác Đa Phước với công suất khoảng 12MW. Bên cạnh đó, thành phố đang kêu gọi đầu tư xử lý rác bằng công nghệ đốt rác phát điện, với mong muốn có những nhà máy thông minh, vừa xử lý rác vừa tạo năng lượng an toàn cho môi trường. Đồng thời, thành phố khuyến khích, có hỗ trợ người dân sử dụng máy nước nóng bằng năng lượng mặt trời. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có khoảng 17.340 bình nước nóng năng lượng mặt trời, góp phần cắt giảm được công suất hệ thống khoảng 31MW.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Phó Giám đốc Sở TN-MT TPHCM, sở này cũng đã đẩy mạnh các giải pháp tuyên truyền, khuyến khích người dân sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả. Khuyến khích sử dụng các loại thiết bị điện có hiệu suất cao và được dán nhãn năng lượng. Tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên, tắt đèn chiếu sáng và các thiết bị điện khi không có nhu cầu sử dụng.

Tuyên truyền, tư vấn cho người dân biết đến nhiều hơn những sản phẩm tiết kiệm năng lượng, các nguồn năng lượng mới và hiểu rõ hơn về công năng cũng như lợi ích khi sử dụng sản phẩm này. Đặc biệt, thành phố đang chú trọng kêu gọi các nhà đầu tư có đủ năng lực tham gia dự án xử lý rác thải sinh hoạt có phát điện. Đây là bài toán đạt được 2 mục đích mà thành phố đang hướng tới.

Kế hoạch giải cứu điện mặt trời Ninh Thuận và Bình Thuận

Hôm qua 3.7, EVN đã tổ chức cuộc họp khẩn với nhà đầu tư các dự án điện mặt trời (ĐMT), điện gió của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, bàn cách “giải cứu” tình trạng buộc phải giảm phát ĐMT do quá tải lưới điện.Chủ đầu tư các nhà máy điện tái tạo lo ngại về khả năng tài chính của dự án bị đảo lộn do bị yêu cầu giảm phát điện. Ông Trần Đình Nhân, Tổng giám đốc EVN, cho hay EVN phấn đấu bằng mọi cách sẽ giải tỏa hết công suất các nhà máy điện mặt trời vào cuối năm 2020 và trong 2 năm tới, EVN sẽ bỏ ra hàng chục nghìn tỉ đồng để đầu tư lưới, nhằm ưu tiên tối đa giảm việc yêu cầu các dự án ĐMT giảm công suất phát.

Hiện nay, EVN đã giao Tổng công ty truyền tải và Tổng công ty điện miền Nam đẩy nhanh tiến độ các dự án, đơn cử như nâng cấp mạch 1 đường dây Tháp Chàm – Phan Rí xong trước tháng 9.2019, mạch 2 sẽ thay đường dây có tiết diện 300 mm cố gắng đưa vào trước tháng 4.2020…Ngày 5.7, Cục Điện lực và năng lượng tái tạo sẽ có cuộc họp với nhiều bên để đốc thúc tiến độ các dự án, sớm kéo giảm tình trạng buộc các nhà máy điện tái tạo phải giảm công suất.

Cơ cấu năng lượng : Nhiệt điện than hay điện mặt trời?

Tính hai mặt của bất kỳ loại hình năng lượng nào, dù là nhiệt điện than hay Điện mặt trời, cho thấy vai trò quan trọng của KH&CN trong giảm thiểu rủi ro đầu tư và ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực năng lượng.

Lắp đặt các tấm pin tại nhà máy điện mặt trời Bình Phước


Từ nhiều góc độ, nhiệt điện than là câu chuyện năng lượng thời sự không chỉ của Việt Nam mà còn của thế giới. Thông qua các báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (ICPP) hay những thông tin cập nhật về chính sách năng lượng của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiệt điện than luôn được đề cập đến như một nguồn năng lượng sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây phát thải khí nhà kính cần được cắt giảm. Mới đây, trên Reuters, cựu thị trưởng New York và tỉ phú Michael Bloomberg cho biết sẽ đóng góp 500 triệu USD cho quá trình đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than trên khắp nước Mỹ. 

Tuy nhiên đó là hướng giải quyết trong tương lai bởi chúng ta cũng cần phải nhìn nhận một thực tế, hiện tại chưa có giải pháp năng lượng nào có thể thay thế triệt để nhiệt điện than nên nó vẫn là một trong những nguồn cung điện chủ yếu trong phần lớn các quốc gia trên thế giới. Ví dụ theo số liệu năm 2015 của Cơ quan Năng lượng thế giới (IEA), ba nguồn cung điện lớn nhất thế giới là nhiệt điện than 39,3 %, nhiệt điện khí 22,9%, thủy điện 16% còn ở Việt Nam lần lượt là thủy điện 36,6%, nhiệt điện khí 33,2% và nhiệt điện than 29,6%. Ngay trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh ban hành năm 2016 thì vị trí áp đảo của nhiệt điện than được nhấn mạnh rõ nét hơn trong cơ cấu điện năng của Việt Nam: 49,3% vào năm 2025 và 55% năm 2030. Trong một bài viết trên Tia Sáng năm 2017, TS. Nguyễn Thành Sơn (Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam) đã thừa nhận, “khi chúng ta đã ‘lùi tiến độ’ điện hạt nhân thì chỉ còn cách đẩy nhanh tiến độ các dự án khác để bù vào. Nếu lấy chi phí biên dài hạn làm chuẩn, thứ tự ưu tiên các nguồn điện ở Việt Nam hiện nay sẽ là thủy điện (lớn, vừa, nhỏ), nhiệt điện than (lớn, vừa), nhiệt điện khí (hóa lỏng), nhiệt điện dầu”.

Góc nhìn từ hiệu quả tài chính

Trong bối cảnh đó, báo cáo “Thời của mặt trời và gió: Cuộc cách mạng năng lượng tái tạo chi phí thấp của Việt Nam và những tác động của nó đối với các khoản đầu tư nhiệt điện than” của nhóm Sáng kiến Carbon Tracker – những người đã chứng minh được sự tồn tại và tác động của rủi ro khí hậu trong các thị trường vốn hiện nay, đã đem đến cái nhìn mới vào nhiệt điện than từ góc độ đầu tư tài chính. Trên cơ sở các mô hình kinh tế của nhiệt điện than, họ cho rằng, đầu tư mới cho điện Mặt trời và điện gió trên bờ sẽ rẻ hơn vận hành các nhà máy điện than hiện có với thời điểm sớm nhất vào năm 2022 và muộn nhất vào năm 2039. Khi đó, nhiệt điện than có thể sẽ mất đi một trong những ưu điểm nổi bật của nó là chi phí nguyên liệu thấp so với điện Mặt trời và điện gió. Việc đầu tư vào nhiệt điện than sẽ không còn hấp dẫn nữa bởi theo các chuyên gia Carbon Tracker, thời gian thu hồi vốn cho các khoản đầu tư vào điện than thường trong khoảng từ 15 đến 20 năm và “các khoản đầu tư này có tính rủi ro cao bởi đốt than để tạo ra điện khó có thể là một lựa chọn có chi phí thấp nhất trước khi hoàn vốn”. Để gia tăng sự cạnh tranh với điện gió và điện Mặt trời, nhiệt điện than phải nâng khả năng điều chỉnh linh hoạt công suất phát điện lên. Đây sẽ là nguyên nhân gia tăng chi phí vận hành, bảo trì các nhà máy và càng khiến điện than càng bất lợi về mặt kinh tế.

Mặt khác, dù có phát triển nhiệt điện than theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh nhưng Việt Nam cũng không nên quên bản cam kết thực thi Công ước khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC): Việt Nam sẽ cắt giảm tới 25% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030 để đạt được mục tiêu nhiệt độ toàn cầu tăng dưới 2°C. Vậy điều gì sẽ xảy ra khi một mặt Việt Nam thực thi cam kết giảm phát thải trong kịch bản khí hậu tăng lên dưới 2°C, mặt khác vẫn gia tăng công suất điện than theo quy hoạch? Theo các chuyên gia Carbon Tracker, đó là “nguy cơ mắc kẹt tài sản” (stranded asset risk) – sự chênh lệch giữa các dòng vốn đầu tư dưới sự điều tiết của thị trường điện Việt Nam hiện tại và việc phải tuân thủ quy định để đảm bảo cam kết cắt giảm khí thải, trong đó mốc dừng vận hành các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam vào năm 2040. Theo cách tính của họ, ước tính giá trị tài sản có “nguy cơ bị mắc kẹt” của thế giới là 232 tỷ USD, còn Việt Nam ước tính là 6,5 tỷ USD, tương đương 2,7% GDP năm 2018 của Việt Nam. Dẫu sẽ còn phải tính đến những tác động mới của việc tự do hóa thị trường điện Việt Nam trong tương lai với hệ quả là giá điện có thể thấp hơn, nhưng với các tổ máy điện than đang trong quá trình xây dựng để tăng thêm công suất thì nguy cơ mắc kẹt tài sản đầu tư sẽ còn lớn hơn nữa. 

Với phân tích của các chuyên gia tài chính, trong tương lai gần, nhiệt điện than ngày càng yếu thế trước điện Mặt trời và điện gió – vốn ngày càng trở nên cạnh tranh hơn bởi giá thành đầu tư ngày càng hạ thấp, ví dụ rẻ gấp 4 lần so với vài năm trước đây. Do vậy, họ đề xuất giải pháp: việc dừng vận hành các nhà máy nhiệt điện than sớm theo Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu là lựa chọn ít tốn kém nhất cho Việt Nam trong tương lai.

Góc nhìn từ công nghệ 

Không dễ để loại bỏ nhiệt điện than khỏi cơ cấu năng lượng quốc gia như đề xuất của các chuyên gia tài chính, ít nhất là trong tương lai gần, bởi sự tồn tại hay không của một loại hình nào trong cơ cấu năng lượng quốc gia còn cần phải có sự cân nhắc về nền tảng công nghệ định hình năng lượng đó. 

Nhà máy nhiệt điện than Duyên Hải Trà Vinh

Dưới góc nhìn của các chuyên gia công nghệ, không phải ngẫu nhiên mà ở thời điểm hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới chưa chối bỏ được nhiệt điện than, dẫu nguồn phát điện này có khả năng phát thải khí nitrogen oxide (NOx), sulfur oxide (SOx), thủy ngân, kim loại, tro bay… Ưu điểm lớn nhất của nguồn phát điện này là tính ổn định cao và chi phí thấp bất kể vào thời gian ban ngày hay ban đêm. Do đó, ngay cả trong Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050, Nhật Bản cũng lựa chọn nhiệt điện than là một trong bốn loại hình năng lượng của nguồn phụ tải nền (base-load power source), cùng với địa nhiệt, thủy điện và điện hạt nhân. Hiệu quả kinh tế cũng chỉ là một phần trong triết lý lựa chọn năng lượng của Nhật Bản, vốn bao gồm đủ bốn yếu tố an toàn, an ninh năng lượng, môi trường và hiệu quả kinh tế.

Điểm yếu lớn nhất của điện Mặt trời và điện gió là tính không ổn định do phụ thuộc vào thời tiết. TS. Nguyễn Trần Thuật, một nhà nghiên cứu về năng lượng Mặt trời ở Trung tâm Nano và năng lượng (Đại học KHTN, ĐHQGHN) cho rằng, muốn khắc phục được nhược điểm này, cần có thiết bị lưu trữ điện năng vào ban ngày để có thể dùng nguồn điện thu được vào ban đêm, khi không có nguồn bức xạ mặt trời. Tuy nhiên, việc tìm ra một nguồn vật liệu đủ tốt và đủ khả năng chế tạo thiết bị lưu trữ không phải đơn giản, ngay với cả nhà phát minh tiên phong trong lĩnh vực điện Mặt trời là Elon Musk thì việc đầu tư vào nghiên cứu và chế tạo đã được tiến hành trong nhiều năm cũng chưa có kết quả như mong muốn. “Không riêng với năng lượng Mặt trời mà với các điện thoại thông minh, laptop, ô tô điện…, việc tìm ra một thiết bị lưu trữ năng lượng hiệu quả và không gây hại cho môi trường vẫn là bài toán khó dành cho các nhà nghiên cứu lẫn các nhà sản xuất. Nói chung, hiện vẫn chưa thể có giải pháp khả thi về thiết bị lưu trữ trong thời gian tới”, anh nhận xét. 

Hơn nữa, hiệu suất của điện mặt trời so với các năng lượng hóa thạch còn khá thấp. Theo TS. Nguyễn Trần Thuật, hiệu suất chuyển đổi năng lượng của các sản phẩm thương mại còn khá thấp khi mới ở mức 15 đến 17%, ngay cả trong điều kiện tối ưu của phòng thí nghiệm thì con số này vẫn chỉ là 25%.

Ngoài ra, nhìn một cách công bằng, điện tái tạo không có nghĩa là hoàn toàn không ảnh hưởng xấu đến môi trường bởi “chúng ta phải nhận thức là không có dự án nào do con người tạo ra lại có thể hoàn toàn tránh được điều đó”, theo nhận định của TS. Theocharis Tsoutsos (Trung tâm Các nguồn năng lượng tái tạo, Hy Lạp) trong công bố “Các tác động môi trường từ những công nghệ năng lượng Mặt trời” (Environmental impacts from the solar energy technologies) trên Energy Policy. TS. Rebecca Hernandez (Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley Mỹ) trong công bố “Các tác động môi trường của năng lượng Mặt trời ở quy mô hữu dụng” (Environmental impacts of utility-scale solar energy) trên Renewable and Sustainable Energy Reviews, còn cho rằng, trong trường hợp tái chế không đúng quy trình hay đơn giản là phá hủy các tấm pin Mặt trời, những nguồn chất thải công nghiệp này có thể gây nguy hiểm cho môi trường và sức khỏe con người, ví dụ việc hít phải bụi silica trong thời gian dài có thể dẫn đến bệnh bụi phổi (silicosis), một loại bệnh gây ra các mô sẹo trong phổi và suy giảm khả năng hô hấp, và trong nhiều trường hợp, có thể chết.

Đâu là lời giải cho bài toán năng lượng? 

Nhiệt điện than vẫn là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng

Những vấn đề đặt ra cho nhiệt điện than và điện Mặt trời cho thấy, KH&CN sẽ là một phần quan trọng trong các phương án giải quyết chúng. Với điện Mặt trời là tìm ra những vật liệu mới có khả năng tăng hiệu suất chuyển đổi năng lượng, ít độc hại với môi trường và một quy trình tái chế hiệu quả các tấm pin đã qua sử dụng, TS. Nguyễn Trần Thuật cho biết. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa có được những giải pháp công nghệ như vậy bởi sau một thời gian dài đầu tư công sức, các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn chưa thể tìm ra vật liệu mới hữu hiệu thay thế silica bởi vật liệu đó “phải đảm bảo các yếu tố khả thi về mặt công nghệ, thị trường và sản xuất”, anh nhận xét. 

Với nhiệt điện than, trong khi chưa có được một nguồn cung điện khác thay thế vị trí của nó thì giải pháp có thể dung hòa cả hai vấn đề trên, đó là đầu tư lắp đặt hệ thống kiểm soát khí thải của các nhà máy nhiệt điện than và áp dụng các công nghệ nhiệt điện than tiên tiến nhằm có được những công nghệ “sạch hơn”, tiêu tốn ít nhiên liệu mà vẫn đạt hiệu suất cao. Đây cũng là cách làm của nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, ví dụ như Mỹ. Trong Hội nghị quốc tế về Các công nghệ than sạch ở Houston vào ngày 4/6/2019 vừa qua, Lou Hrkman, người phụ trách Văn phòng quản lý Than sạch và Carbon (Bộ Năng lượng Mỹ) cho biết, Bộ này đang đầu tư hàng tỷ USD vào công nghệ để đảm bảo các nhà máy nhiệt điện than trong tương lai trở nên sạch hơn, hiệu quả hơn và linh hoạt hơn thông qua chương trình FIRST, viết tắt của các từ linh hoạt (Flexible), đổi mới sáng tạo (Innovative), dễ phục hồi (Resilient), công suất nhỏ (Small), dễ biến đổi (Transformative). “Chúng tôi không thấy Mỹ cần những nhà máy nhiệt điện than có công suất 1.500 đến 2.000 MW trong tương lai như đã làm trong quá khứ mà thấy tiềm năng ở các quốc gia đang phát triển về công nghệ lò công suất nhỏ, đặc biệt ở châu Phi và châu Á, những nơi cần các giải pháp mang tính kinh tế,” ông nói.

Tương tự với trường hợp của điện Mặt trời, đây cũng là giải pháp của tương lai. Hiện tại đối với các nhà máy nhiệt điện than vẫn đang vận hành theo công nghệ cũ thì việc cải thiện phát thải NOx, SOx, và bụi là việc có thể thực hiện với các hệ thống kiểm soát khí thải tiên tiến, như máy lọc có khả năng “bắt” 98% bụi, loại bỏ trên 90% khí NOx hay trên 90% thủy ngân và các kim loại nặng khác. Điểm trừ của các hệ thống kiểm soát khí thải này là đắt đỏ. Theo báo cáo “Thị trường toàn cầu về hệ thống kiểm soát khí thải cho các nhà máy nhiệt điện than” của QY Research vào năm 2018, nếu thị trường này trị giá 98,72 tỷ USD vào năm 2017 thì ước tính sẽ đạt 171,08 tỷ USD vào năm 2025.

Với riêng Việt Nam, theo TS. Nguyễn Xuân Quang (Viện Nhiệt điện lạnh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội), việc chúng ta có thể làm hiện nay là thực hiện các nghiên cứu khoa học về công nghệ điện than hiện hành cũng như hệ thống kiểm soát khí thải tiên tiến, qua đó từng bước cải tiến các quy trình công nghệ, một số chi tiết thiết bị quan trọng trong dây chuyền công nghệ cũng như nội địa hóa các hệ thống kiểm soát khí thải. 

Nguồn : Báo điện tử Tia Sáng