Phát triển điện gió : nhà đầu tư còn băn khoăn

Tiềm năng phát triển điện gió của Việt Nam có thể lên tới hàng trăm nghìn MW, nhưng đến nay, mới chỉ có khoảng 377MW công suất điện gió đi vào vận hành.

Quyết định 39/2018/QĐ-TTg (Quyết định 39) sửa đổi, bổ sung Quyết định 37/2011/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió đã tạo động lực thúc đẩy thị trường điện gió tại Việt Nam. Nhiều dự án điện gió theo đó đã được đề xuất bổ sung quy hoạch và đang được thi công xây dựng.

Báo cáo của Bộ Công thương cho hay, tính đến tháng 3/2020, có 78 dự án đã được bổ sung vào Quy hoạch Phát triển điện lực với công suất khoảng 4.880MW; 11 dự án điện gió đã phát triển với tổng công suất 377MW; 31 dự án đã ký hợp đồng mua bán điện với tổng công suất 1.662MW, kế hoạch đi vào vận hành trong năm 2020 và 2021.

Ngoài ra, còn gần 250 dự án điện gió, có tổng quy mô công suất tới 45.000MW đang đề nghị bổ sung quy hoạch. Đây là con số thể hiện sự quan tâm rất lớn của các chủ đầu tư về loại hình năng lượng này.

Đánh giá về các dự án đã hoạt động và dự án được bổ sung vào quy hoạch, ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió tỉnh Bình Thuận cho rằng con số này đang có sự chênh lệch lớn. Lý do phải kể đến là việc thi công điện gió phức tạp hơn rất nhiều so với điện mặt trời, đặc biệt là với điện gió ngoài khơi. Đơn cử như bàn giao diện tích mặt biển cho chủ đầu tư đang vướng nhiều thủ tục như cho thuê đất thế nào, an ninh quốc phòng, cho thuê toàn bộ diện tích hay chỉ thuê móng trụ? Đây là những vấn đề chưa có tiền lệ. 

Ngoài ra, trong Quyết định 39 còn thiếu nhiều chính sách phát triển điện gió ngoài khơi xa bờ, thêm vào đó, thời hạn để hưởng giá FIT theo Quyết định này là cuối năm 2021 chỉ còn 18 tháng, không đủ để nhà đầu tư triển khai đầu tư các dự án điện gió mới. Trong khi vì lý do dịch bệnh COVID-19, nhiều nước, nhiều doanh nghiệp đã tạm dừng sản xuất, không thể cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị thi công. Các nhà thầu cũng không thể đảm bảo tiến độ thi công trước thời hạn trên.   

“Chúng tôi rất cần sau thời điểm đó, giá FIT mới như thế nào, bởi không có mức giá thì doanh nghiệp không có cơ sở để lập dự án đầu tư cho mục tiêu phát điện sau năm 2021. Rất mong, Chính phủ trước mắt có thể gia hạn thời gian hưởng giá FIT này để hỗ trợ cho doanh nghiệp”, ông Thịnh nói.

Đồng quan điểm trên, theo ông Lê Anh Tùng, đại diện Công ty Ecotech, các dự án của doanh nghiệp này thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn về mốc thời gian hưởng ưu đãi trên. Các nhà sản xuất thiết bị dừng sản xuất, có thể chậm trễ trong giao hàng. Nên việc gia hạn giá FIT là rất cần thiết đối với doanh nghiệp.  

“Hiện nay, các dự án đã được triển khai không thể dừng đầu tư hay thi công được. Nhưng nếu tiếp tục đầu tư, xây dựng mà không kịp thời hạn thì thực sự là rất khó khăn vì sẽ không có mức giá điện để thanh toán, mua bán”, ông Tùng cho hay.

Việc kéo dài giá FIT điện gió là rất cần thiết vì những rào cản liên quan đến làm dự án này nhiều và phức tạp hơn so với điện mặt trời; trong đó, rào cản lớn nhất là Luật Quy hoạch khi quy hoạch về không gian biển chưa có, tiếp theo nữa là các hướng dẫn liên quan đến an ninh quốc phòng với các dự án triển khai ngoài khơi… Đó là chưa tính đến câu chuyện kỹ thuật cao, chậm tiến độ giao hàng…   

Để gỡ khó cho doanh nghiệp, mới đây, Bộ Công thương đã có văn bản đề nghị Chính phủ cho các dự án điện gió được hưởng cơ chế giá mua điện cố định tới hết tháng 12/2023, sau đó mới tiến hành đấu thầu, đấu giá cạnh tranh để chọn nhà phát triển dự án.

Tuy nhiên, ngoài câu chuyện về cơ chế giá, những khó khăn trong thi công, các luật liên quan, thì vấn đề nhiều doanh nghiệp lo ngại là lưới điện liệu có thể theo kịp số lượng lớn công suất của các dự án đưa lên lưới.

Mặc dù cho rằng, mức giá hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo (Feed-in Tariff – FIT) cho điện gió là hấp dẫn, song nhiều nhà đầu tư và chuyên gia vẫn băn khoăn về các chính sách liên quan đến loại hình năng lượng này.

Theo Tờ trình số 1931/BCT-ĐL ngày 19/3/2020 của Bộ Công thương về việc xem xét bổ sung quy hoạch các dự án điện gió, với kịch bản cơ sở và kịch bản cao đến năm 2020 điện gió Việt Nam đạt tổng công suất trên 1.000MW; đến năm 2025 kịch bản cơ sở là 6.000MW và kịch bản cao là 11.630MW, nhằm thay thế cho sản lượng điện từ nguồn nhiệt điện than và nhiệt điện dầu có chi phí sản xuất rất cao và góp phần giảm phát thải khí CO2.

Ông Bùi Văn Thịnh cho rằng, hiện nay, tại khu vực tỉnh Bình Thuận, điện gió Phú Lạc vẫn bị cắt giảm công suất, thời điểm cao nhất cắt giảm 61%, bình quân thất thoát 20% sản lượng điện hàng quý, hàng tháng do lưới điện không đáp ứng được.

“Vậy câu chuyện đặt ra là làm thế nào để có sự đồng bộ về nguồn và lưới trong những năm tới khi lượng điện tái tạo đưa vào lớn, tập trung ở một số tỉnh”, ông Thịnh đặt câu hỏi và đề nghị quy hoạch phải rõ ràng hơn, cụ thể, với quy hoạch nguồn điện như vậy thì lưới điện, nguồn điện dự phòng như thế nào? Nếu không làm kỹ quy hoạch thì sẽ gặp tình trạng đầu tư vào mà không giải tỏa được công suất. Hay ngược lại, với lưới điện hiện nay thì nguồn điện gió, điện mặt trời đưa vào bao nhiêu là phù hợp. Với phương án cao như Bộ Công thương đưa ra thì lưới điện sẽ được triển khai như thế nào? Cần phải có những kiến nghị bằng con số rõ ràng hơn, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng không truyền tải được công suất, gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp, lãng phí nguồn lực đầu tư.

Theo TS Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh, các kết quả tính toán cho thấy, theo danh mục các dự án đăng ký bổ sung quy hoạch và đã bổ sung quy hoạch, từ sau năm 2020, tắc nghẽn của các dự án năng lượng tái tạo vẫn rất cao và với hiện trạng hiện nay là không thể giải quyết được. Đây là thách thức lớn giữa chủ đầu tư, ngành Điện và Bộ Công thương. Hi vọng rằng, trong Tổng sơ đồ điện VIII được đưa ra thời gian tới sẽ có điều chỉnh và tiếp cận phù hợp hơn.

Bức tranh năng lượng tái tạo trong năm 2020

Giá bán mới cho dự án điện gió theo Quyết định 39/2018/QĐ-TTg ban hành ngày 10/9/2018 có thể lần lượt thu hút nhiều nhà đầu tư hơn.

Với sự phát triển ngày càng cao, nhu cầu về điện tiêu dùng và sản xuất ngày càng tăng; đặc biệt tại Việt Nam thời gian gần đây. Chưa kể, khi các nguồn sản xuất điện truyền thống như nhiệt điện, khí điện, thủy điện, hạt nhân… bộc lộ nhiều rủi ro và ảnh hưởng cao đến môi trường, những nguồn năng lượng thay thế trở thành tất yếu.

Điện gió lên ngôi nhờ chính sách mới

Trong đó, gây nhiều chú ý từ cuối năm 2019, đầu năm 2020 là nguồn năng lượng gió khi nhiều dự án được xúc tiến đầu tư dưới sự hỗ trợ từ quy định mới. Chi tiết, giá bán mới cho dự án điện gió theo Quyết định 39/2018/QĐ-TTg ban hành ngày 10/9/2018 có thể lần lượt thu hút nhiều nhà đầu tư hơn. Giá bán hiện là 0,085 USD/ kWh cho các dự án trên bờ và 0,095 USD / kWh cho các dự án ngoài khơi, trong khi cơ chế giá cũ chỉ trả 0,078 USD / kWh.

Trong báo cáo mới đây, SSI Research cho rằng giá cũ không đủ hấp dẫn dựa trên tổng chi phí LCOE là 0,07 USD/ kWh (LCOE – chi phí sản xuất năng lượng quy đổi – bao gồm tổng chi phí phát sinh trong quá trình vận hành). Ngoài ra, chi phí tuabin gió đã giảm, giúp giảm mức vốn đầu tư cần thiết, đây cũng là một điểm hấp dẫn.

Dừng cấp phép dự án điện mặt trời từ cuối năm 2019

Ngược lại, ngành điện mặt trời sau cú bùng nổ giai đoạn đầu năm qua đến nay đang chờ cơ chế giá mới. Đáng chú ý, Bộ Công Thương (MOIT) cũng đã công bố Quyết định 9608 /BCT ban hành ngày 16/12/2019 dừng cấp phép các dự án năng lượng mặt trời mới.

Ngoài ra, tình trạng thừa cung ở Ninh Thuận/Bình Thuận, cũng như quá tải đường dây truyền tải điện, có thể hạn chế công suất của các đơn vị mới. Dựa trên đề xuất mới nhất từ ​​Bộ Công thương, FIT (biểu giá điện hỗ trợ) cho điện mặt trời đề xuất ở mức 0,0709 USD/ kWh cho các dự án trên bờ và 0,0769 USD/ kWh cho các dự án ngoài khơi. Các mức này thấp hơn nhiều so với FIT ban đầu là 0,0935 USD (Quyết định 11/QĐ-TTg ban hành ngày 11/4/2017).

Theo EVN, các đường dây truyền tải điện trong nước đã quá tải đáng kể vào tháng 6/2019 khi công suất điện mặt trời tăng đột biến từ tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (tăng khoảng 5.000 MW, trong đó hơn 2.000 MW từ Bình Thuận và Ninh Thuận).

Ghi nhận bởi SSI Research, hệ số tải là 260-360% đối với các đường dây 110kV từ Tháp Chàm – Hậu Sanh – Tuy Phong – Phan Ri; hệ số tải là 140% đối với các đường dây 110 kV từ Phan Rí – Sông Bình – Đại Ninh (Theo Thông tư 25/2016 / TT_BCT ngày 30/11/2016, mức hệ số tải thông thường là dưới 90% và mức cảnh báo là trên 90%). Do khoảng cách giữa các nhà máy điện mặt trời (Ninh Thuận/Bình Thuận) và các điểm có nhu cầu cao ở xa, yêu cầu cần có đường dây 220kV & 500kV. Trung bình một dự án năng lượng mặt trời chỉ hoàn thành mất tầm 6 tháng trong khi các dự án đường dây 220kV và 500kV mất khoảng 3-5 năm.

Năm 2019: Sản lượng điện đạt 231,1 Kwh, giá điện tăng đáng kể lên 1.864 đồng/kWh

Về các nguồn điện chủ lực hiện nay tại nước ta: thủy điện, điện than và điện khí. Năm 2019, sản lượng từ các nhà máy thủy điện giảm do El Nino. Nguồn cung than cũng khan hiếm, ví dụ như nhà máy nhiệt điện than Vũng Áng vẫn đang đối mặt với tình trạng thiếu nguồn cung than trong 8 tháng 2019 mặc dù có hợp đồng dài hạn với Vinacomin (tuy nhiên sản lượng cam kết cung cấp chỉ đạt 70-80%).

Cuối cùng, nguồn cung khí đốt trong nước đồng thuận giảm, trong đó các mỏ khí Đông Nam Bộ (Nam Côn Sơn và Sư Tử Trắng) đã đã sụt giảm về sản lượng. Năm 2019, nguồn cung khí cho Đông Nam Bộ đã giảm từ 20 triệu m3/ ngày xuống 16,5 triệu m3/ ngày. Các nhà máy khí đốt phải chạy bằng dầu DO vào mùa cao điểm, như Nhơn Trạch 1 (108,11 triệu kwh) và Nhơn Trạch 2 (5,87 triệu kWh).

Tính chung, tổng sản lượng điện năm 2019 đạt 231,1 tỷ Kwh, tăng 8,85%, thấp hơn mức tăng trưởng năm 2018 là 10,36% (theo EVN). Công suất hệ thống đạt 54.880 MW, tăng 6.320MW so với năm 2018 (trong đó gần 5000MW là từ điện mặt trời).

Giá điện bán lẻ tăng 8,36% từ 1.720 đồng/kWh lên 1.864 đồng/kWh (tương đương 0,0804 USD), theo Quyết định 648/QĐ-BCT vào ngày 20/3/2019. Mức tăng giá này cao hơn năm 2018 là 6,08%.

Nguồn cung nhiên liệu vẫn chưa ổn định

Dự báo cho năm 2020, SSI Research cho rằng với nhiệt điện than, sản lượng và lợi nhuận không hẳn đồng biến với nhau do nguồn cung than khan hiếm và không ổn định, cùng với các vấn đề than hỗn hợp không phù hợp với kỹ thuật trong nước.

Vấn đề đặt ra, tăng nhập khẩu than để đảm bảo nguồn cung? Nếu sử dụng than Nam Phi (5500 kcal/kg) ở mức giá 53 USD/tấn; các khoản cần tính đến như (1) phí vận chuyển 15 USD/ tấn từ Vịnh Richards (Nam Phi) đến Ấn Độ và (2) phí vận chuyển tăng thêm ước tính 7,50 USD/tấn từ Ấn Độ đến Việt Nam. Tổng cộng, than nhập khẩu có giá khoảng 75,5 USD/tấn (1,75 triệu đồng/tấn so với than 5A Việt Nam là 1,85 triệu đồng/ tấn). Mức chênh lệch là khoảng 5,7% (tuy nhiên thực tế là các nhà máy nhiệt điện than hiện tại chủ yếu sử dụng than hỗn hợp từ TKV thay vì tự nhập khẩu).

Hiện tại, các nhà máy nhiệt điện than đã được cho phép tự nhập khẩu than và sẽ được hưởng lợi từ xu hướng giá thấp hơn nếu có loại than tương thích không gây ra các vấn đề phụ như nguy cơ gián đoạn sản xuất. Nhưng, vẫn tồn tại những vấn đề khác như nếu giá nhập khẩu cao hơn giá trong nước do Vinacomin & Đông Bắc cung cấp?

Trong trường hợp này, không có chính sách rõ ràng nào cho việc chuyển phần tăng giá qua hợp đồng PPA. Thứ hai, nếu thủ tục nhập khẩu kéo dài, đặc biệt là khi các nhà máy điện lần đầu phải tự nhập khẩu, điều này có thể gây hậu quả và ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của nhà máy.

Tương tự thuỷ điện, sản lượng sản xuất dự báo tiếp tục giảm, ít nhất trong 6 tháng đầu năm 2020 do tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi lượng mưa thấp trước El Nino.

Với điện khí, dự kiến nguồn cung khí mới trong quý 4/2020 từ bể Sao Vàng – Đại Nguyệt sẽ cung cấp sản lượng ổn định hơn cho khu vực Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, chi phí nhiên liệu khí trong tương lai sẽ tăng lên khi các mỏ khí cũ có chi phí thấp dần cạn kiệt và phải sử dụng nguồn cung khí từ các mỏ mới.

Ông chủ TTC mong muốn chính phủ tháo gỡ khó khăn cho phát triển điện mặt trời

Lãnh đạo Vingroup, Thaco, Thành Thành Công muốn Chính phủ hỗ trợ phát triển ôtô điện, nông nghiệp, năng lượng tái tạo và mía đường. 

Tại cuộc đối thoại sáng 23/12, nhiều doanh nghiệp gửi tới Thủ tướng và các thành viên Chính phủ kiến nghị về thuế, tiếp cận vốn cũng như các vấn đề về chính sách hiện nay. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lắng nghe và cẩn trọng ghi chép từng ý kiến của các doanh nhân.

Vingroup muốn giống Tesla

Ông Nguyễn Việt Quang – Tổng giám đốc Tập đoàn Vingroup mong Chính phủ có chính sách thuế, phí để tập đoàn này phát triển ôtô điện, giống Tesla. Ông cho biết, tập đoàn vừa thoái vốn khỏi lĩnh vực bán lẻ, nông nghiệp để tập trung vào phát triển công nghiệp, công nghệ, nhất là sản xuất ôtô, dù “biết đi theo hướng mới sẽ đối mặt với nhiều khó khăn”. Chính thương hiệu xe điện của Tesla, theo ông Quang, cũng mới có lãi gần đây sau 10 năm có mặt trên thị trường.

Lãnh đạo Vingroup cho biết VinFast đang đẩy mạnh nghiên cứu, thiết kế và sẽ sớm đưa ra thị trường ôtô điện và xuất khẩu sang Mỹ từ năm 2021. Riêng năm 2020 sẽ có thêm 4 dòng máy điện mới, một mẫu xe bus điện, 2 mẫu ôtô điện.

Việc chuyển hướng phát triển mạnh vào ôtô điện, CEO Vingroup tin sẽ giúp giảm nguồn thải từ các phương tiện giao thông, cũng như cải thiện chất lượng không khí, bảo vệ môi trường. 

Ông Nguyễn Việt Quang - Tổng giám đốc Vingroup. Ảnh: Ngọc Thắng

Cụ thể, cần phải có một hệ thống chính sách đồng bộ, khuyến khích cả nhà sản xuất, phân phối và người tiêu dùng, cũng như xây dựng một hệ sinh thái thân thiện cho phương tiện chạy điện trong tương lai. Như vậy, các doanh nghiệp sản xuất ôtô trong nước mới đủ tự tin tạo ra sản phẩm “made in Vietnam”. Tuy nhiên, tập đoàn này mong nhận được hỗ trợ chính sách từ Chính phủ, nhất là về thuế, phí để “khởi nghiệp thuận lợi hơn trong lĩnh vực có quá nhiều cạnh tranh như ôtô, đặc biệt là ôtô điện”.

Thaco kêu khó vay vốn nông nghiệp

Ông Trần Bá Dương – Chủ tịch Công ty cổ phần Ôtô Trường Hải (Thaco) lại đề cập việc nhiều ngân hàng thương mại e ngại cho vay trong khi tiềm năng của ngành nông nghiệp còn rất lớn.

Theo ông, doanh nghiệp cần vốn để sản xuất quy mô lớn, toàn cầu. “Nếu chỉ trồng chuối 50-100 ha thì sản lượng không ổn định cho xuất khẩu. Không thể chỉ xuất khẩu 5 container một ngày mà cần nhiều hơn thế. Quy mô lớn là một điểm mạnh và cơ hội trong thời gian tới”, ông nói. 

Ông Trần Bá Dương - Chủ tịch  ty cổ phần Ôtô Trường Hải. Ảnh: Bảo Nguyễn 

Đáp lại sau đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, trong số các lĩnh vực, nông nghiệp, sản xuất luôn được nhà băng ưu tiên rót vốn. Ông khẳng định sẽ đề nghị các ngân hàng tháo gỡ, tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn dễ dàng hơn.

Thành Thành Công sốt ruột với chính sách điện mặt trời

Ông Đặng Văn Thành – Chủ tịch Tập đoàn Thành Thành Công cho rằng, năm 2019 chứng kiến sự phát triển sôi động của điện mặt trời với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân cùng chính sách giá khuyến khích 9,35 cent/kWh theo Quyết định 11/2017.

Nhờ đó, đến hết tháng 6, cả nước đã có 98 dự án năng lượng tái tạo, tổng công suất gần 5.000 MW được đưa vào vận hành, trong đó 89 nhà máy điện mặt trời, công suất xấp xỉ 4.500 MW. Song con số này đã vượt xa quy hoạch điện VII điều chỉnh (chỉ 850 MW điện mặt trời). Trong khi đó, sau 30/6 – khi Quyết định 11/2017 hết hiệu lực, vẫn chưa có cơ chế giá mới.

Ông kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương sớm có cơ chế giá khuyến khích điện mặt trời và tháo gỡ những vướng mắc của Luật Quy hoạch với bổ sung quy hoạch. Cùng đó, cải thiện hệ thống truyền tải lưới điện quốc gia để giải toả công suất các dự án điện mặt trời khi hoà lưới.

“Có cơ chế giá mới cho điện mặt trời các nhà đầu tư sẽ khai thác tối ưu nguồn năng lượng, đáp ứng tiêu dùng điện ngày càng tăng và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia”, ông Thành nhận xét.  

Ngoài năng lượng, ông Thành cũng bày tỏ lo lắng ngành mía đường trong nước sẽ mất thị trường nội địa khi thuế ATIGA giảm về 0-5% từ 1/1/2020. Khi chỉ còn hơn chục ngày nữa, các doanh nghiệp mía đường trong nước, trong đó có Thành Thành Công vẫn lo lắng sẽ mất thị phần nội địa nếu thuế giảm. “Vì uy tín của ngành mía đường Việt Nam, chúng tôi mong Thủ tướng, Chính phủ có chính sách hỗ trợ để nông dân tồn tại được trên mảnh đất của họ”, ông nêu.

Đáp lại sau đó, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, “không thể lùi thêm” thời hạn thuế ATIGA có hiệu lực. Thừa nhận ngành mía đường trong nước đang đứng trước thách thức song Phó thủ tướng đề nghị doanh nghiệp “phải cải cách mạnh mẽ để thích ứng”.

Điện mặt trời : giải pháp hữu hiệu giải quyết nguy cơ thiếu điện ở Việt Nam

Khi nguồn thuỷ điện đã hết, điện than cần hạn chế thì nguồn điện khí và năng lượng tái tạo cần phải xem xét để đáp ứng nhu cầu.

Nhìn lại tình hình sản xuất và cung ứng điện trong 8 tháng qua có thể thấy, lượng điện thương phẩm đã tăng trưởng gần 10% so cùng kỳ 2018.

Bộ Công Thương dự kiến, việc cung cấp điện năm 2020 về cơ bản đáp ứng được nhưng tiếp tục tiềm ẩn một số rủi ro, có thể đối mặt với nguy cơ thiếu điện trong các tình huống cực đoan khi nhu cầu phụ tải cao hơn dự báo, lưu lượng nước về các hồ thủy điện kém, thiếu hụt nguồn nhiên liệu than, khí cho sản xuất điện…

Chưa nhìn thấy nguồn điện mới khả thi

Báo cáo của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cũng cho thấy, do nhiều dự án nguồn điện lớn bị chậm tiến độ so với quy hoạch, đặc biệt các nguồn điện BOT, các dự án nhiệt điện than… nên hệ thống sẽ thiếu điện trong cả giai đoạn 2021-2025 (mặc dù đã phải huy động tối đa các nguồn điện, kể cả các nguồn điện chạy dầu).

Trong khi đó, ước tính sản lượng điện thiếu hụt năm 2021 khoảng 6,6 tỷ kWh, đến năm 2022 tăng lên khoảng 11,8 tỷ kWh, năm 2023 có thể lên đến 15 tỷ kWh (tương ứng xấp xỉ 5% nhu cầu).

Về phát triển năng lượng tái tạo, theo ông Phương Hoàng Kim, Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, tổng công suất điện mặt trời (ĐMT) theo đề xuất của các nhà đầu tư đã lên đến khoảng 25.000 MW, các dự án điện gió với tổng công suất khoảng 16.500 MW. Tính đến hết tháng 6, đã có tổng số 89 nhà máy ĐMT đưa vào vận hành với tổng công suất gần 4.500 MW.

“Đây là nguồn điện đã bổ sung kịp thời cho hệ thống điện quốc gia, góp phần đảm bảo cung cấp điện trong 6 tháng đầu năm 2019. Tuy nhiên, với hiện trạng cơ sở hạ tầng hiện có, trong một số thời điểm, lưới điện 500-220-110kV thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Đăk Nông, Đăk Lăk bị quá tải, ảnh hưởng đến việc vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định”, ông Kim thông tin.

Là đơn vị được Chính phủ giao cung cấp điện, điều mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lo lắng nhất chính là đảm bảo đủ nguồn. Ông Võ Quang Lâm, Phó Tổng giám đốc EVN cho biết, hiện tại, tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống điện là 48.000 MW song mức độ khả dụng chỉ là 39.000 MW.

“Với tốc độ tăng trưởng sử dụng điện trên 10%/năm, nghĩa là năm 2020 phải có thêm khoảng 4.000 MW nữa, tương đương cần 43.000 MW, không biết lấy đâu để sẵn sàng”, ông Lâm nêu khó khăn.

Xung quanh câu chuyện nguồn điện của Việt Nam, ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng, từ nay tới năm 2021, Việt Nam chưa nhìn thấy nguồn điện nào mới khả thi.

 Chính vì thế, Việt Nam cần nghiên cứu chi tiết và buộc phải đa dạng hoá nguồn điện, nhất là khi nguồn thuỷ điện đã hết, điện than cần hạn chế; điện gió, điện mặt trời tốt nhưng còn tác động mạnh về giá điện. Và trong bối cảnh hiện tại, nếu không phát triển điện hạt nhân thì nên xem xét thêm nguồn về điện khí.

Nguồn nào cũng có cái khó riêng

Phát triển bùng nổ thời gian qua, song điện mặt trời thực tế lại chỉ đáp ứng được lượng điện khá khiêm tốn trong tổng nhu cầu. Theo quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất điện mặt trời mới đạt 850 MW nhưng thực tế hiện nay đã đạt 4.500 MW và sang năm, con số này dự kiến sẽ lên tới 7.700 MW. Con số thực đi xa hơn khá nhiều so với con số quy hoạch.

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cho biết, sau khi có các cơ chế về giá ưu đãi đối với điện mặt trời, điện gió, các dự án điện năng lượng tái tạo này phát triển quá nhanh. Để đầu tư 1 dự án điện mặt trời với công suất 50-100MW chỉ mất khoảng 6 tháng, nhưng việc đầu tư lưới điện truyền tải với đường dây 500kV phải mất 3 năm, đường dây 220kV mất 2 năm. Do vậy, việc phát triển lưới điện truyền tải không theo kịp tiến độ đầu tư các dự án điện mặt trời.

Theo ông Võ Quang Lâm, đến tận năm 2025, dự báo tăng trưởng nhu cầu sử dụng điện vẫn là trên 10%/năm. Để đáp ứng nhu cầu về điện, cơ cấu các nguồn điện truyền thống cần được quan tâm đúng mức, nghiêm túc. Hiện nay, năng lượng truyền thống hiện chỉ còn nhiệt điện than và nhiệt điện khí có thể nhìn tới.

Dù vậy, ông Lâm cũng bày tỏ lo ngại bởi việc khai thác than của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc hiện nay khá khó khăn, công suất không lên được trong khi giá lại tăng lên, dẫn tới phải nhập khẩu than, khí.

“Nhập khẩu khí dạng hoá lỏng bằng tàu lại cần có cảng nước sâu nên phát sinh rất nhiều khó khăn, nên phải trông chờ vào đầu tư lớn, dài hạn thì chủ mỏ khí mới quyết định mở mỏ bởi mỏ khí cần đầu tư 5-7, thậm chí 10 năm mới có khí. Do vậy, cần phải tính toán quy hoạch sớm, chỗ nào làm được nhà máy khí, chỗ nào làm nhiệt điện than”, ông Lâm nói.

Theo chuyên gia năng lượng Nguyễn Văn Vy, Phó Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam (VEA), mặc dù các nguồn năng lượng trong đó có điện từ nay đến năm 2020 không đáng lo ngại, nhưng giai đoạn sau năm 2020, với hàng loạt các công trình, dự án đang chậm tiến độ cho thấy nguy cơ thiếu điện khá rõ ràng đòi hỏi các cơ quan quản lý cần tính toán lại.

“Điện mặt trời có thể xây dựng rất nhanh, nếu có cơ chế đặc biệt và phê duyệt nhanh thì từ lúc lập tự án cho đến khi đưa vào vận hành chỉ trong vòng 1 năm. Cho nên khi tính toán, nếu thấy có khả năng thiếu điện tổng thể hay vùng nào thiếu điện, ngành điện có thể tập trung các dự án năng lượng tái tạo tại khu vực đó để đảm bảo cung cấp điện”, ông Vy nêu quan điểm.

Công nghệ mới giúp lưu trữ điện từ Năng lượng tái tạo

Tìm hiểu về năng lượng tái tạo

Sài Gòn : Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng tái tạo

Mỗi năm, TPHCM tiêu thụ khoảng 22 tỷ kWh điện năng, chiếm khoảng 15% so với cả nước. Từ đầu năm 2018 đến nay, TPHCM đã triển khai các hạng mục quan trọng trong đề án xây dựng thành phố thông minh giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2025. 

Đây là đề án được triển khai trong bối cảnh bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Sử dụng năng lượng thông minh cũng là một trong các trụ cột hướng tới đô thị thông minh, bao gồm các yếu tố sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. 

Hướng đi tất yếu

Trong kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm môi trường giai đoạn 2016-2020, TPHCM đã đặt mục tiêu chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới lên trên 1,74% tổng công suất tiêu thụ trên toàn thành phố. Đến nay, công suất lắp đặt pin mặt trời trên địa bàn thành phố ước tính đạt 2MWp, trong đó 1.838,2kWp đã nối lưới, được phân bố ở các đối tượng chính là tòa nhà các cơ quan và doanh nghiệp – đạt 1.607,2kWp (chiếm 87,5%); hộ gia đình 231kWp (chiếm 12,5%).

Theo đánh giá của các chuyên gia, TPHCM không có nhiều diện tích đất cũng như địa hình phù hợp để phát triển các công trình sản xuất điện quy mô lớn như thủy điện hay nhiệt điện, điện hạt nhân. Vì thế, phát triển năng lượng mặt trời và tiết kiệm năng lượng là hướng đi TPHCM nên lựa chọn. Ông Phạm Trần Hải, Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM, cho rằng để đạt được các mục tiêu trong sử dụng năng lượng hiệu quả và phát triển năng lượng tái tạo, vấn đề này cần được lồng ghép một cách phù hợp vào các chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch khác nhau của thành phố, để huy động được sự tham gia đóng góp của các ngành, lĩnh vực, các thành phần xã hội.

Ghi nhận tại một số hộ dân đã lắp đặt pin mặt trời cho thấy, người dân rất chủ động và hào hứng với việc sử dụng nguồn năng lượng xanh này. Nhiều người cho biết, sử dụng điện mặt trời không chỉ giảm được chi phí tiêu thụ điện mà còn góp một phần nhỏ cùng thành phố trong việc tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường.

Chị Nguyễn Thị Kim Ánh (cư ngụ tại nhà số 81 đường Bành Văn Trân, quận Tân Bình) cho biết, gia đình chị đã đầu tư 12 tấm pin điện mặt trời với kinh phí 70 triệu đồng. Sau thời gian sử dụng, mỗi tháng gia đình chị tiết kiệm được từ 800.000 – 900.000 đồng tiền điện và quan trọng hơn là nguồn điện rất ổn định, không phải lo bị cắt hay cúp để sửa điện theo kế hoạch ngành điện.

Chú Trương Văn Cường (ngụ tại 477/3/14 Âu Cơ, quận Tân Phú) cũng chia sẻ đã đầu tư hệ thống điện mặt trời cho gia đình là 167 triệu đồng. Mỗi tháng, gia đình tiết kiệm được khoảng 500kW điện. Đầu tư điện mặt trời chi phí ban đầu tuy có lớn nhưng về lâu dài sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng; mặt khác còn góp một phần nhỏ trong kế hoạch kêu gọi sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để thích ứng với biến đổi khí hậu.

Kêu gọi đầu tư các dự án đốt rác phát điện

Theo Sở TN-MT TPHCM, tổng công suất năng lượng tái tạo trên địa bàn tính đến thời điểm hiện nay là 35,4MW, so với nhu cầu phụ tải lớn nhất toàn thành phố là 3.575MW. Để đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, thành phố đã và đang đẩy mạnh triển khai các giải pháp đa dạng hóa nguồn cung năng lượng.

Theo đó, từ năm 2005, thành phố đã phát điện Nhà máy điện Gò Cát từ công nghệ đốt rác với công suất khoảng 2,4MW và sắp đưa vào vận hành Nhà máy điện rác Đa Phước với công suất khoảng 12MW. Bên cạnh đó, thành phố đang kêu gọi đầu tư xử lý rác bằng công nghệ đốt rác phát điện, với mong muốn có những nhà máy thông minh, vừa xử lý rác vừa tạo năng lượng an toàn cho môi trường. Đồng thời, thành phố khuyến khích, có hỗ trợ người dân sử dụng máy nước nóng bằng năng lượng mặt trời. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có khoảng 17.340 bình nước nóng năng lượng mặt trời, góp phần cắt giảm được công suất hệ thống khoảng 31MW.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Phó Giám đốc Sở TN-MT TPHCM, sở này cũng đã đẩy mạnh các giải pháp tuyên truyền, khuyến khích người dân sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả. Khuyến khích sử dụng các loại thiết bị điện có hiệu suất cao và được dán nhãn năng lượng. Tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên, tắt đèn chiếu sáng và các thiết bị điện khi không có nhu cầu sử dụng.

Tuyên truyền, tư vấn cho người dân biết đến nhiều hơn những sản phẩm tiết kiệm năng lượng, các nguồn năng lượng mới và hiểu rõ hơn về công năng cũng như lợi ích khi sử dụng sản phẩm này. Đặc biệt, thành phố đang chú trọng kêu gọi các nhà đầu tư có đủ năng lực tham gia dự án xử lý rác thải sinh hoạt có phát điện. Đây là bài toán đạt được 2 mục đích mà thành phố đang hướng tới.