Điện mặt trời và điện gió “chưa đủ” để đảm bảo an ninh năng lượng Việt Nam

Điện mặt trời chiếm gần 27% tổng công suất đặt hệ thống điện, nhưng theo các chuyên gia, hai loại hình điện gió và điện mặt trời này chưa đủ giúp Việt Nam đạt mục tiêu “net zero” vào 2050.

Nhận định này được các chuyên gia năng lượng nêu tại toạ đàm “Chiến lược và hợp tác thúc đẩy chuyển đổi năng lượng Việt Nam”, ngày 22/6.

Theo ông Sean Lawlor, chuyên gia năng lượng, Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, hiện một số quốc gia EU như Đức, Áo mở lại nhà máy điện than vì thiếu nguồn khí đốt từ Nga. Ông cho rằng đây là ứng phó tức thời của một số nước trong bối cảnh giá khí đốt tăng vọt khi Nga đóng đường khí đốt sang EU. Nhưng về lâu dài năng lượng ít phát thải hơn (như khí cùng giải pháp công nghệ hydro, thu giữ carbon…) là xu hướng tất yếu.

Tại Việt Nam, năng lượng tái tạo hiện chiếm tỷ trọng đáng kể trong hệ thống điện. Thống kê của Cục Điện lực & Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), đến cuối năm 2021 tổng công suất điện gió, điện mặt trời khoảng 20.670 MW, đạt gần 27% tổng công suất đặt toàn hệ thống. Sản lượng điện các nguồn điện này đạt 31,5 tỷ kWh, tương đương gần 12,3% sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống.

Sáu tháng đầu năm nay con số này tăng lên khoảng 15% sản lượng điện hệ thống, theo Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0).

Song ông Sean Lawlor cho rằng, “điện gió, điện mặt trời không phải là nguồn năng lượng giúp Việt Nam đảm bảo an ninh năng lượng”.

Thay vào đó, như nhiều quốc gia khác, Việt Nam cần thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển đổi năng lượng, vốn đã thực hiện từ 2019, và chuyển đổi nhiên liệu. Tức là ngoài khai thác tối đa, hợp lý các nguồn điện tái tạo từ điện mặt trời, điện gió…, cần xem xét chuyển đổi một số nguồn điện trong quy hoạch dùng than sang LNG, biomass, amoniac hoặc hydrogen khi công nghệ đã được kiểm chứng, thương mại hoá… Việc này sẽ giúp đạt các mục tiêu về phát triển kinh tế xanh, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và đạt mục tiêu giảm phát thải ròng về 0 vào 2050.

Các chuyên gia tham dự toạ đàm chuyển đổi năng lượng, ngày 22/6. Ảnh: Dũng Đỗ
Các chuyên gia tham dự toạ đàm chuyển đổi năng lượng

Có nhiều lợi thế để Việt Nam “bước đi nhanh hơn” trong quá trình chuyển đổi năng lượng.

Theo ông Nguyễn Ngọc Hưng, Trưởng phòng Kinh tế Năng lượng, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), điểm mạnh trong chuyển đổi năng lượng ở Việt Nam là nguồn tài nguyên, nhất là năng lượng tái tạo đa dạng, phong phú và nằm trong khu vực tiềm năng của trao đổi giao thương năng lượng… Nhưng điểm yếu lại là thiếu khung pháp lý tạo đà phát triển sử dụng năng lượng hiệu quả, cũng như tỷ lệ nội địa hoá công nghệ ngành năng lượng thấp, thiếu cơ chế hỗ trợ và thúc đẩy nội địa hoá công nghệ. Bên cạnh đó, thị trường năng lượng cạnh tranh mới ở giai đoạn đầu, chưa phát triển đồng bộ.

“Nhu cầu chuyển đổi năng lượng ở Việt Nam rất lớn, chúng ta gặp thách thức khi nguồn tài nguyên sơ cấp truyền thống (than, thuỷ điện…) đang suy giảm nhanh chóng và việc huy động lượng vốn lớn cho quá trình chuyển đổi này không dễ dàng”, ông nhận xét.

Theo tính toán nhu cầu vốn cho đầu tư nguồn, lưới điện tại dự thảo quy hoạch điện VIII là gần 14 tỷ USD một năm, trong đó 75% vốn cho nguồn điện, 25% vốn cho lưới điện. Nguồn vốn này chưa tính tới thay đổi công nghệ, nhiên liệu cho chuyển đổi năng lượng. Tức là, lượng vốn cần huy động để hướng tới kinh tế xanh, phát triển bền vững và giảm phát thải về 0 vào 2050 sẽ rất lớn.

Vấn đề chi phí cũng là băn khoăn của Phó tổng giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh khi Việt Nam chuyển đổi năng lượng sang các dạng năng lượng mới hơn như biomass, amoniac hay hydrogen trong tương lai. Theo ông, các công nghệ như trên chi phí vẫn rất cao, chưa được chấp nhận thương mại.

“Có nhiều thách thức về chính sách, cơ chế để thực hiện và đảm bảo chuyển đổi năng lượng thành công nhưng chi phí phải hợp lý nhất”, ông nhận xét.

Ông Deepak Maloo, Giám đốc mảng điện gió, khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Tập đoàn GE (Mỹ) thừa nhận tài chính, giá hợp lý là bài toán hóc búa mà bất kỳ quốc gia nào cũng gặp trên con đường chuyển đổi năng lượng sạch hơn. Nhưng ông cho rằng, phát triển tích hợp các nguồn năng lượng song hành cùng ứng dụng công nghệ sẽ giải quyết bài toán này.

“Về mặt công nghệ, Việt Nam có thời gian làm việc với các công ty có hàng trăm năm kinh nghiệm để chuyển dịch các nhà máy dùng than sang khí”, đại diện GE nhận xét.

Để chuyển đổi năng lượng ở Việt Nam tới đây “trơn tru” hơn, ông Nguyễn Ngọc Hưng cũng đánh giá việc xây dựng khung khổ pháp lý cho các lĩnh vực phải là trụ cột. “Ví dụ, quy hoạch điện VIII tới đây sẽ ưu tiên phát triển 7 GW điện gió ngoài khơi, thì cơ chế, chính sách ra sao để đạt mục tiêu này, cũng cần rõ ràng”, ông nói.

Cụ thể hơn, ông Nguyễn Đức Ninh, Giám đốc Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) đề cập tới việc thúc đẩy phát triển dịch vụ phụ trợ, cơ chế cho hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS). Cơ chế BESS có thể hoạt động như một nguồn tích hợp để cung cấp nguồn dự trữ khi xảy ra chênh lệch giữa cung và cầu trong hệ thống điện (sự cố tổ máy, giảm đột ngột thế hệ năng lượng tái tạo…).

“Nếu thiếu cơ chế phát triển thị trường dịch vụ phụ trợ thì rất khó đưa BESS, nguồn phân tán… vào vận hành chung trong hệ thống điện, thị trường điện khi chuyển đổi năng lượng”, ông khuyến nghị.

Bên cạnh đó, Giám đốc A0 cũng nhắc tới việc cần thúc đẩy các chương trình điều chỉnh phụ tải điện thương mại nhằm cải thiện khả năng đáp ứng của tải trọng dựa trên thị trường; cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, nâng cao nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới về vận hành hệ thống điện và thị trường.

Các trở ngại và kịch bản giúp năng lượng Hydrogen “xanh” phát triển

Mở rộng quy mô hydro xanh hiện đang phải đối mặt với những thách thức, nhưng nhờ công nghệ phát triển, đặc biệt là công nghệ kỹ thuật số có thể giúp ngành này phát triển sôi động trong tương lai.

Bốn vật cản đối với hydro xanh trong mục tiêu trung hòa carbon:

Hydro xanh (Green hydrogen) hay Hydro xanh lá là tân binh trong khối hydro, được gọi là “xanh” vì không sản sinh ra CO2, bởi nó được sản xuất bằng năng lượng tái tạo. Tiềm năng của hydro xanh trong việc kết nối giữa năng lượng mặt trời, gió và khí tự nhiên để làm nguyên liệu cho các quá trình hóa chất công nghiệp rất lớn, thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp, chính phủ lẫn các nhà đầu tư.

Hydro xanh được sản xuất thông qua quá trình điện phân (electrolysis), quá trình tách nước thành hydro và oxy, sử dụng điện năng được tạo ra từ các nguồn tái tạo. Ngày nay nó chỉ chiếm 0,1% sản lượng hydro toàn cầu. Tuy nhiên, việc giảm chi phí của cả điện tái tạo (chiếm ~ 70% chi phí sản xuất hydro) và công nghệ điện phân cho thấy hydro xanh là cách đầu tư tốt nhất tiếp theo trong thế giới năng lượng sạch. Đối với nhiều người, kể cả các công ty khai thác dầu khí, các công ty tiện ích lớn, đến các ngành công nghiệp từ thép đến phân bón… hydro xanh được coi là sự đặt cược tốt nhất để hài hòa giữa khả năng tái tạo trong khi khử carbon trong các lĩnh vực công nghiệp, hóa chất và giao thông vận tải.

Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (Weforum): Tiềm năng lớn của hydro xanh rất lớn, nhưng 4 rào cản dưới đây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành công nghiệp này:

1/ Chi phí tối ưu thiết kế và thời gian hoàn vốn đầu tư hạn chế:

Điều này hạn chế khả năng vay vốn ngân hàng. Để thỏa mãn nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp thường phải mở rộng quy mô và cải tiến thiết kế nhà máy hydro xanh của mình. Thực tế, việc tối ưu hóa thiết kế nhà máy và hệ thống hydro xanh đầu – cuối vô cùng tốn kém và phức tạp.

Hơn nữa, nhiều cơ sở hydro xanh lớn này lại xây dựng trong các cụm công nghiệp hiện có, nên cần phải bổ sung thêm một khía cạnh thiết kế khác để đảm bảo hạn chế tác động đến các hoạt động hiện có trong quá trình chuyển đổi sang hydro xanh.

2/ Hạn chế về sử dụng lao động:

Nhu cầu lực lượng lao động có chuyên môn cao được đặc biệt quan tâm, nhất là khi ngành công nghiệp này trưởng thành. Sự thiếu hụt công nhân chuyên môn sẽ cản trở sự phát triển. Đây là một trong những thách thức lớn đối với lĩnh vực hydro xanh, nhất là khâu lưu trữ và vận chuyển vì hydro là loại khí rất dễ cháy, có tỷ trọng thể tích thấp, cần đầu tư hệ thống đường ống và thiết bị vận chuyển chuyên dụng.

3/ Tổn thất năng lượng cao:

Hydro xanh thường có tổn thất lượng năng lượng đáng kể tại mọi điểm trong chuỗi cung ứng. Khoảng 30 – 35% năng lượng được sử dụng để sản xuất hydro bị mất trong quá trình điện phân; hóa lỏng, hoặc chuyển đổi hydro thành các chất mang khác (chẳng hạn như Amoniac), dẫn đến tổn thất năng lượng từ 13 – 25%; và vận chuyển hydro yêu cầu đầu vào năng lượng bổ sung thường bằng 10 – 12% năng lượng của chính hydro. Việc sử dụng hydro trong pin nhiên liệu cũng làm mất thêm 40 – 50% năng lượng. Những yếu tố kém hiệu quả này, nếu không được tối ưu hóa, sẽ cản trở việc triển khai năng lượng tái tạo để cung cấp cho các máy điện phân hydro xanh.

4/ Giá trị hydro xanh vẫn là thách thức ở nhiều nơi:

Thách thức chính là làm thế nào để kiếm tiền từ hydro xanh thuận lợi nhất?

Thứ nhất, trong khi hydro xanh tiết kiệm chi phí có thể được sản xuất ở những nơi đầy nắng (chẳng hạn như Úc, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, hoặc Tunisia), thì tại nhiều nơi sản xuất lại gặp khó khăn, cơ sở sản xuất hydro không ở bên cạnh. Điều này dẫn tới cần phải có thêm các đường ống chuyên dụng, khiến chi phí tăng thêm.

Ngoài ra, định giá hydro xanh đảm bảo phải có xuất xứ và khả năng chuyển đổi thành tín chỉ carbon; cả hai quy trình này vẫn đang được khắc phục và là chủ đề nhiều cuộc tranh luận gay gắt về hydro xanh.

Kịch bản giúp ngành hydro xanh phát triển:

Theo Weforum, cùng với việc tăng cường đầu tư, hỗ trợ của chính phủ, phát triển kỹ thuật và lực lượng lao động có tay nghề cao, công nghệ số sẽ là một trong những đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang hydro xanh. Đặc biệt là trí tuệ nhân tạo vạn vật (artificial intelligence of things, hay AIoT) hay còn gọi cặp song sinh kỹ thuật số. Tức là kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo và công nghệ internet vạn vật, cho phép tối ưu hóa và tự động hóa hệ thống thông qua phân tích và quản lý dữ liệu nâng cao.

Dưới đây là bốn lĩnh vực mà công nghệ có thể giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi hydro xanh:

1/ Cặp song sinh kỹ thuật số:

Trước khi cam kết vốn, các nhà đầu tư muốn biết cấu hình hệ thống như thế nào để tối ưu hóa lợi nhuận của họ. Từ PV (pin quang năng) cho đến công suất máy điện phân, đến bộ đệm (chẳng hạn như năng lượng và lưu trữ hydro), nhiều biến số phải được xem xét. Cặp song sinh kỹ thuật số có thể lập mô hình nhiều thiết kế và kịch bản, bao gồm các biến số như thời tiết, sự biến động của nhu cầu và cơ sở hạ tầng địa phương (hiện tại và tương lai), tối ưu hóa từng thiết kế để tối đa hóa lợi tức đầu tư và giảm thiểu rủi ro. Các ước tính chỉ ra rằng phân tích kép kỹ thuật số có thể tối ưu hóa chi tiêu vốn (CAPEX) 10 – 15% trong khi giảm rủi ro 30 – 50%, cùng với sự thay đổi biên trong chi tiêu hoạt động (OPEX).

2/ Giám sát và kiểm soát:

Tiêu thụ năng lượng, hiệu suất của nhà máy, tốc độ sản xuất, độ tinh khiết và lưu trữ là một trong những chỉ số hiệu suất chính (KPI) đối với sản xuất hydro, đòi hỏi khả năng hiển thị để đảm bảo sản xuất hiệu quả. AIoT có thể cung cấp khả năng phát hiện bất thường nhanh chóng bằng cách sử dụng cảnh báo thông minh, cảm biến trên thiết bị để theo dõi KPI, tình trạng thiết bị và giám sát từ xa dựa trên đám mây ngoài các phòng điều khiển. Cung cấp theo dõi thời gian thực các hoạt động của nhà máy và tình trạng thiết bị, cùng với điều khiển từ xa, có thể giảm chi phí từ 10 – 20% thông qua mức tiêu thụ năng lượng thấp hơn và lực lượng lao động được sắp xếp hợp lý. Tận dụng các mô hình giám sát, phù hợp với các cặp song sinh kỹ thuật số trong thiết kế, cho phép các nhà đầu tư biết vị trí của họ liên quan đến kế hoạch kinh doanh và thực hiện các hành động để giảm tổn thất.

3/ Phân tích nâng cao:

Phân tích nâng cao có thể chuyển đổi dữ liệu thành thông tin kinh doanh với thông tin chi tiết hữu ích. Đối với hydro xanh, việc khuấy trộn và học hỏi thông qua dữ liệu từ các nhà máy, bể chứa, đường ống, các nhà cung cấp năng lượng và thậm chí cả thời tiết, và việc áp dụng phân tích cấp nhà máy hoặc cấp nhóm vận hành có thể đưa ra các khuyến nghị hành động khắc phục để tối đa hóa sản lượng. Việc thất thoát năng lượng có thể được ngăn chặn bằng cách dự báo sự cố và tối ưu hóa thời gian hoạt động của máy điện phân, do đó tăng doanh thu và giảm OPEX. Tận dụng các mô hình phân tích phù hợp với cặp song sinh kỹ thuật số của họ cho phép các nhà đầu tư và chủ ngân hàng ‘đóng vòng thiết kế’ và đưa ra các quyết định chiến lược và chiến thuật để tối ưu hóa lợi nhuận của họ.

4/ Giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ:

Đảm bảo xuất xứ (GoO) là điều kiện tiên quyết để kiếm tiền từ hydro xanh bằng cách chứng nhận tính chất tái tạo của tất cả điện năng tiêu thụ trong quá trình tạo ra Hydro. GoO là một chứng chỉ năng lượng được định nghĩa trong Điều 15 của Chỉ thị châu Âu 2009/28/EC. GoO dán nhãn điện từ các nguồn tái tạo để cung cấp thông tin cho khách hàng sử dụng điện về nguồn năng lượng của họ.

Các cài đặt được AIoT giám sát có thể tận dụng dữ liệu gần thời gian thực để tự động hóa đầu vào cho các tổ chức phát hành GoO – điều này tránh được quá trình xử lý thủ công, mang lại độ tin cậy và độ tin cậy cao hơn, đồng thời tăng khả năng kiểm chứng trong tương lai khi ngày càng có nhiều chứng chỉ phát triển theo hướng thời gian thực và tự động hóa. AIoT cũng có thể đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc “toàn tập” hay từ đầu đến cuối dọc theo toàn bộ vòng đời của hydro xanh.

Để thay cho lời kết, Weforum cho rằng: Hydro xanh cung cấp một giải pháp khử cacbon cho các lĩnh vực công nghiệp, hóa chất và giao thông vận tải. Kết hợp với tăng cường đầu tư, hỗ trợ của chính phủ, tiến bộ kỹ thuật và lực lượng lao động có tay nghề cao, các giải pháp AIoT sẽ rất quan trọng trong việc cho phép chuyển đổi sang hydro xanh và sẽ đóng một vai trò quan trọng trong nỗ lực khử cacbon toàn cầu. Weforum ước tính các giải pháp hỗ trợ AIoT có thể giảm CAPEX và OPEX từ 15% – 25%, đẩy nhanh quy mô của hydro xanh khả thi về mặt thương mại trong 4 đến 7 năm. Từ đây, các ngành công nghiệp chủ chốt, máy bay và tàu thuyền có thể được cung cấp và sử dụng 100% hydro xanh.