Bộ Công Thương thừa nhận “vỡ quy hoạch” điện mặt trời

Bị “truy” việc cấp phép ồ ạt điện mặt trời, ông Trần Tuấn Anh thừa nhận, khi lập quy hoạch năm 2016 không lường được sự bùng nổ.

Ông Trần Tuấn Anh là thành viên Chính phủ thứ hai đăng đàn trong phiên chất vấn của Quốc hội kéo dài từ ngày 6-8/11. 77 đại biểu đã đăng ký chất vấn trong chiều 6/11 và không ít câu hỏi cho người đứng đầu ngành công thương liên quan vấn đề phát triển điện mặt trời.

‘Vỡ’ quy hoạch điện mặt trời

Hiện 121 dự án điện mặt trời được cấp phép và 210 dự án đang chờ phê duyệt. Đại biểu Lê Thu Hà (Lào Cai) đặt câu hỏi: “Quy hoạch điện VII có ý nghĩa gì khi quy hoạch năm 2020 là 850 MW và 1200 MW tới 2030 đã bị phá vỡ và công suất hiện tại lên hơn 7.000 MW, gấp 9 lần ban đầu”.

Bộ trưởng Công Thương trả lời chất vấn chiều 6/11. Ảnh: Ngọc Thắng.

Sau đó, Bộ trưởng Công Thương thừa nhận khi lập quy hoạch điện VII vào năm 2016 đã “không lường được hết sự phát triển của năng lượng tái tạo, trong đó chủ yếu là điện mặt trời”.

Tuy nhiên, theo ông, Quyết định 11 về cơ chế giá ưu đãi cho điện mặt trời là 9,35 cent một kWh trong 20 năm với dự án vận hành trước 30/6/2019 đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư phát triển năng lượng này ở Việt Nam.

Đại biểu Nguyễn Phương Tuấn – Ủy viên Thường trực Ủy ban Đối ngoại chất vấn về ồ ạt cấp phép dự án điện mặt trời, khiến nhiều dự án khi vào vận hành bị giải toả công suất. Giải trình việc này, ông Tuấn Anh nói: “Đúng là quá trình thực hiện thì đã có sự chủ quan, đánh giá không hết nên trong thời gian ngắn đã có sự phát triển bùng nổ, gần 4.900 MW điện mặt trời vận hành tới cuối tháng 6/2019”. Ông cũng giải thích thêm, khi xây dựng các cơ chế là để tạo ra môi trường thí điểm cho điện mặt trời và sau này tổng kết phát triển điện sạch gồm cả điện gió.

Ngoài ra, người đứng đầu ngành công thương cũng thừa nhận có sự phát triển chưa đồng bộ giữa hạ tầng truyền tải điện, các trạm biến áp tại một số khu vực. Kết quả là, các dự án điện mặt trời vận hành nhưng không thể giải toả hết công suất.

Ông giải thích, có sự lúng túng, bất cập trong phối hợp tổ chức, các cơ quan chức năng giữa Bộ Công Thương – Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và địa phương trong thẩm định, phê duyệt các dự án. “Ở diễn đàn Quốc hội này, tôi xin nhận trách nhiệm khi chưa bao quát và dự báo kịp thời để có biện pháp quyết liệt, nhất là trong phát triển hệ thống truyền tải điện tương xứng, đảm bảo giải toả công suất”, ông Tuấn Anh nói.

Tuy nhiên, ông cũng nêu khó khăn khi Nhà nước còn độc quyền trong truyền tải điện, trong khi nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này chưa đảm bảo. Song ông tin, năm 2020 sẽ có thêm nguồn lực phát triển hệ thống hạ tầng khi nhiều tập đoàn đề xuất đầu tư và có thể giao tư nhân đầu tư đường dây 500 kV.

“Về lâu dài phải có quy định pháp luật để cho phép xã hội hoá đầu tư truyền tải điện, nhưng không làm mất vai trò độc quyền của nhà nước. Có thể sẽ áp dụng hình thức BT trong đầu tư hệ thống chuyển tải điện”, ông nói.

Mức giá 9,35 cent một kWh trong 20 năm theo đại biểu Hà là khá cao nên bà đề nghị làm rõ giá thành sản xuất, giá mua và hiệu quả sản xuất khi phát triển nguồn năng lượng này. Lãnh đạo Bộ Công Thương cho biết mức giá này trên cơ sở phối hợp với tư vấn quốc tế và thực tiễn Việt Nam. “Khi ban hành Quyết định 11 cũng đối mặt nguy cơ lớn thiếu điện 2019-2020 nên điện mặt trời là nguồn năng lượng bổ sung đáng kể”, ông chia sẻ. Và thực tế tới 30/6 – khi Quyết định 11 hết hiệu lực đã có gần 4.900 MW vận hành, góp phần lớn bổ sung vào nguồn điện năm 2019.

Nguy cơ thiếu điện

Ông Trần Tuấn Anh thừa nhận các giải pháp sẽ giúp đủ điện đến năm 2020 và từ 2021, nguy cơ thiếu điện hiện hữu, đặc biệt ở Tây Nam Bộ.

Đại biểu Dương Tấn Quân (Bà Rịa – Vũng Tàu) lo lắng trước nguy cơ thiếu điện hiện hữu nên đề nghị Bộ Công Thương, Chính phủ cho biết giải pháp để đủ điện cho sản xuất, tiêu dùng. Tuy nhiên, trả lời sau đó, đại diện Bộ Công Thương dành thời gian nói về nguy cơ thiếu điện cao và nguyên nhân trước, thay vì đi thẳng vào giải pháp.

Ông nói, Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu điện cao trong 2019- 2020 và kéo dài tới 2022-2023. Nguy cơ không có dự phòng ở vùng phụ tải cao như Tây Nam Bộ là rất lớn.

Ngoài ra, điều kiện bất lợi thời tiết với tính cực đoan cao, các thuỷ điện không đủ tích nước, Việt Nam đối mặt suy giảm thị trường năng lượng sơ cấp khi dự báo sẽ phải nhập 20 triệu tấn than vào 2020 và tăng lên 35 triệu tấn than vào 2035. Nguồn khí cũng không đủ phục vụ phát điện cho dự án ở Đông Nam Bộ.

Về phương án đảm bảo cân đối điện, ông nói sẽ huy động tối đa các nguồn công suất phát như điện than, thuỷ điện, điện khí, điện mặt trời. Cùng đó, trình Chính phủ cơ chế mới về điện mặt trời với phương án thấp bổ sung thêm khoảng 6.000 MW điện mặt trời và 1.500 MW điện gió. Khả năng phải huy động cao hơn các nguồn điện này với 8.000 MW và điện gió huy động 3.000 MW.

Bộ cũng giao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đàm phán mua khí từ Malaysia, Thái Lan đảm bảo cung ứng điện cho miền Tây, Đông Nam Bộ. Nhà điều hành cũng tính toán phương án chuyển đổi cơ cấu phát điện của một số nhà máy điện, như Điện Hiệp Phước chuyển từ chạy dầu sang dùng khí LNG nhập khẩu, thì sẽ có thêm công suất 400 MW.  “Khai thác hiệu quả, đồng bộ các giải pháp trên thì sẽ đủ điện trong 2019-2020”, ông nói.

Về dài hạn phát triển bền vững lĩnh vực năng lượng, trong đó tính tới phát triển các trung tâm điện lực khí lớn như Long Sơn, Cà Ná và Bạc Liêu. Bộ sẽ đề xuất Chính phủ bổ sung vào quy hoạch điện VIII 8 trung tâm điện khí lớn vì Việt Nam hiện không còn khả năng phát triển điện than.

Chậm đưa điện về nông thôn

Đại biểu Phương Thị Thanh (Bắc Kạn) nêu thực trạng dự án đưa điện về vùng nông thôn, miền núi triển khai chậm. Tại phiên chất vấn kỳ 3, đại biểu Nguyễn Hữu Cầu yêu cầu Bộ trưởng cam kết sẽ thực hiện đề án này nhưng đến nay vẫn không đúng tiến độ. Trả lời sau đó, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cảm ơn vì đã có cơ hội thay mặt Chính phủ báo cáo về sự chậm trễ này.

Ông cho biết, Bộ Công Thương đã xây dựng kế hoạch cung ứng vốn từ ngân sách, EVN, địa phương và quốc tế. Trong đó nguồn vốn lớn nhất là từ WB và Liên minh châu Âu với quy mô 24.000 tỷ đồng. Nhưng cuối năm 2017, đầu 2018, trần nợ công lên tới mức giới hạn, theo chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo Bộ Kế hoạch & Đầu tư rà soát tất cả chương trình sử dụng vốn vay dưới danh nghĩa quốc gia. Do đó, nguồn vay từ WB và một số từ Liên minh châu Âu không được bố trí.

Đến nay, xét về tiêu chí vốn và các chỉ tiêu dự án, theo ông Tuấn Anh, chỉ hơn 10% nội dung đầu tư được thực hiện, khoảng 18,5% nguồn vốn được giải ngân. Hiện nợ công được kiểm soát, ông Tuấn Anh cho rằng có cơ sở để làm việc tiếp với WB, Liên minh châu Âu để sẵn sàng nguồn hỗ trợ tín dụng. Tuy nhiên, ông cho biết không kịp hoàn thành tiến độ 2020 nên đề nghị Quốc hội xem xét cho phép tiếp tục sử dụng các nguồn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế để làm dự án trong giai đoạn 2021-2025.

Ngày mai, Quốc hội tiếp tục chất vấn Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh. Cùng giải trình với ông Trần Tuấn Anh về những vấn đề liên quan là các trưởng ngành Kế hoạch & Đầu tư, Tài chính, Ngoại giao, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Khoa học & Công nghệ, Thông tin & truyền thông, Công an, Thanh tra Chính phủ.

Từng bước giải tỏa công suất điện mặt trời ở Ninh Thuận

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) mới có buổi làm việc với tỉnh Ninh Thuận và các chủ đầu tư nhà máy điện năng lượng tái tạo về giải pháp giải tỏa công suất cho các nhà máy ở khu vực này.

Theo báo cáo của EVN, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận hiện có 41 dự án điện gió và điện mặt trời với tổng công suất 2.447 MW đã được phê duyệt quy hoạch. Trong đó, tính đến ngày 30/6/2019, đã có 18 nhà máy với tổng công suất 1.156 MW đưa vào vận hành. Các nhà máy này đấu nối chủ yếu qua đường dây 220 kV Tháp Chàm – Vĩnh Tân và đường dây 110 kV Tháp Chàm – Phan Rí.

Việc nhiều nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành trong một thời gian ngắn đã gây quá tải cho hệ thống lưới điện từ 110 kV – 500 kV, do các dự án lưới điện truyền tải không theo kịp tiến độ xây dựng các nhà máy điện mặt trời.

Mặc dù EVN và các đơn vị trực thuộc đã triển khai đồng bộ các giải pháp, nhằm giải tỏa tối đa công suất của các nhà máy điện sạch hay đã báo cáo Chính phủ, Bộ Công thương bổ sung các dự án lưới điện truyền tải vào quy hoạch, nhưng trên thực tế, mọi chuyện không nhanh như mong đợi, đặc biệt là vướng mắc trong đền bù giải phóng mặt bằng.

Để tháo gỡ khó khăn trong giải tỏa công suất điện mặt trời tại tỉnh Ninh Thuận, EVN đề xuất lắp đặt tạm 2 trạm biến áp 220 kV (Vĩnh Tân và Phước Thái), dự kiến hoàn thành trong quý II/2020 theo hình thức các nhà đầu tư lắp đặt trạm, sau đó cho EVN thuê vận hành. Với hướng này, các trạm mới sẽ cơ bản giải tỏa hết công suất cho những nhà máy điện mặt trời được đưa vào vận hành trước ngày 30/6/2019.

Đề xuất chung tay xây dựng trạm tạm cũng được các chủ đầu tư như Công ty cổ phần Xây dựng Vịnh Nha trang, Công ty cổ phần Điện mặt trời Trung Nam chia sẻ và mong muốn triển khai sớm. EVN đã kiến nghị tỉnh Ninh Thuận chủ trì, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công thương về cơ chế thực hiện.

Lúng túng chọn giá

Cho tới thời điểm này, tức là khi mức giá ưu đãi đã hết hiệu lực hơn 3 tháng, Chính phủ vẫn chưa quyết định được mức giá mua điện mặt trời mới cho giai đoạn tiếp theo, mà trước mắt là đến hết năm 2021. Trong khoảng 6 tháng qua, đã có nhiều dự thảo về mức giá điện mặt trời mới được Bộ Công thương đưa ra, nhưng tới nay vẫn chưa quyết được mức giá nào.

Trước đó, tháng 4/2019, Bộ Công thương đã đưa ra dự thảo 4 vùng giá điện mặt trời, nhằm không tập trung nhiều dự án điện mặt trời tại các khu vực tiềm năng bức xạ tốt nên có nguy cơ quá tải lưới truyền tải. Chưa kể việc các dự án điện mặt trời chỉ tập trung tại một số vùng khiến khả năng vận hành điều độ hệ thống truyền tải sẽ khó khăn hơn, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng… càng khó khăn hơn.

Sau khi được yêu cầu nghiên cứu thêm phương án chia 2 vùng, thay vì 4 vùng như đang đề xuất, để khuyến khích phát triển hợp lý điện mặt trời tại các khu vực có tiềm năng, lợi thế phát triển, Bộ Công thương cũng đã đề xuất phương án 2 vùng.

Sau đó, tại cuộc họp Thường trực Chính phủ ngày 30/7/2019, Bộ Công thương lại được yêu cầu nghiên cứu bổ sung phương án áp dụng một mức giá điện mặt trời trên toàn quốc. Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ kiến nghị về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam và cho rằng, đề xuất áp dụng chung một giá mua điện mặt trời của Bộ Công thương chưa hợp lý, cần xem xét.

Chưa kể, theo rất nhiều ý kiến, vấn đề đấu thầu chọn nhà đầu tư phát triển dự án điện mặt trời giúp minh bạch và giảm được giá mua điện mặt trời cao như thời gian qua đang thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan chức năng.

Thực tế trên cho thấy, khi không có quy hoạch chuẩn thì mọi việc đều bị động.

Chuyên gia hiến kế : giải tỏa công suất điện mặt trời

Theo ông Trần Đình Long, Phó chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, để giải quyết vấn đề quá tải lưới điện, trước mắt cần thương lượng để ưu tiên cho các dự án điện mặt trời, còn các nguồn khác (như thủy điện) có thể phát thấp đi.

Lưới điện quá tải vì điện mặt trời, Phó chủ tịch Hội Điện lực hiến kế giải quyết

Điện mặt trời đang khiến lưới truyền tải bị quá tải

Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính đến cuối tháng 6/2019, cả nước có 89 nhà máy điện gió và điện mặt trời với tổng công suất đặt 4.543,8 MW. Riêng hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đã có 38 nhà máy điện gió, điện mặt trời với tổng công suất đặt 2.027 MW. Dự kiến, đến tháng 12/2020, công suất điện gió và điện mặt trời ở 2 tỉnh này sẽ tăng lên 4.240 MW.

Sự phát triển nhanh chóng của điện mặt trời và điện gió đã khiến lưới điện tại hai địa phương trên bị quá tải. Các đường dây quá tải có thể kể đến như: đường dây 110 kV Tháp Chàm-Hậu Sanh-Tuy Phong-Phan Rí mức mang tải lên tới 260-360%; đường dây 110 kV Phan Rí-Sông Bình-Đại Ninh mang tải 140%; đường dây 110 kV Đa Nhim-Đơn Dương mang tải 123%; trạm biến áp 550 kV Di Linh mang tải 140%; trạm biến áp 220 kV Đức Trọng-Di Linh mang tải 110 %…

Mức mang tải này được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới.

Việc lưới truyền tải bị quá tải đã buộc cơ quan điều độ hệ thống điện phải cắt giảm công suất phát điện của các nhà máy điện gió và mặt trời để đảm bảo an toàn lưới. Tuy nhiên điều này lại gây nên phản ứng của các nhà đầu tư.

Phát triển hệ thống lưới truyền tải đang là vấn đề cấp bách đối với ngành điện trước sự bùng nổ của điện gió và điện mặt trời. VietnamFinance đã có cuộc trao đổi nhanh với ông Trần Đình Long, Phó chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, về vấn đề này.

– Việc đầu tư hệ thống truyền tải là lĩnh vực độc quyền của nhà nước. Nhiều ý kiến cho rằng cần có cơ chế cho tư nhân tham gia xây dựng lưới điện truyền tải, ông có đồng tình?

Ông Trần Đình Long: Theo Luật Điện lực, hệ thống truyền tải là lĩnh vực độc quyền của nhà nước. Việc này không chỉ riêng ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng vậy vì liên quan đến an ninh quốc gia. Muốn cho tư nhân tham gia thì phải sửa luật.

Tuy nhiên cũng có một cách để tư nhân tham gia một cách hợp pháp là cho tư nhân xây dựng đường dây từ nhà máy điện đến điểm đấu nối (vị trí đấu nối do EVN quyết định). Đường dây này chỉ tải công suất nhà máy của tư nhân xây dựng thôi. Tôi nghĩ nếu tư nhân có vốn thì họ vẫn được làm.

– Một số ý kiến nêu cơ chế cho tư nhân tham gia vào xây dựng truyền tải điện là nhà đầu tư xây rồi giao lại cho EVN quản lý. Chi phí xây hệ thống truyền tải được tính vào giá thành xây dựng dự án nguồn điện. Ông thấy sao?

Đây là cơ chế BT, chi phí xây dựng được trả dần trong quá trình vận hành. Cái này tôi nghĩ nhà đầu tư có thể thảo luận với EVN. Tôi thấy cơ chế đó cũng hợp lý với điều kiện nhà đầu tư chỉ xây dựng còn vận hành, quản lý là thuộc EVN.

– Theo ông, nếu cho tư nhân tham gia xây dựng lưới truyền tải thì tiến độ dự án có nhanh hơn so với doanh nghiệp nhà nước làm?

Khâu chậm nhất trong các dự án này là giải tỏa mặt bằng chứ không phải xây dựng. Rất nhiều công trình bị chậm vì khâu giải tỏa bị chậm. Nếu tư nhân làm thì tôi nghĩ tiến độ cũng không nhanh hơn được vì họ cũng phải tuân theo quy chế của nhà nước về bồi thường, giải tỏa. Nhà đầu tư tư nhân không đền bù cao để giải tỏa mặt bằng nhanh được.

– Ông có gợi ý nào về hướng giải quyết cho vấn đề quá tải lưới điện hiện nay?

Tôi cho rằng cần phải làm việc với EVN, bên chỗ điều độ, anh có thể thương lượng vào giờ điện mặt trời có công suất cao (từ 8h sáng đến 4h chiều) thì ưu tiên cho các nhà máy điện mặt trời. Các nguồn điện khác, như thủy điện, thì phát thấp đi, tích nước lại rồi phát bù sau.

Nếu thương lượng tốt thì điều này có thể thu xếp được, tránh được quá tải. Tôi nghĩ là nên ưu tiên vì nhà máy thì xây rồi, mặt trời ngày nào cũng chiếu, nhà đầu tư cũng đã cố gắng hoàn thành trước 30/6 nên cần có chính sách chiếu cố các dự án này.

– Nguyên nhân của việc quá tải hiện nay suy cho cùng xuất phát từ việc có quá nhiều dự án được phê duyệt dẫn đến vỡ quy hoạch, ông có bình luận gì?

Mức giá 9,35 cent là khá cao, vì vậy mà nhà đầu tư đua nhau xây dựng nhà máy. Hơn nữa việc xây dựng nhà máy còn mang tính tập trung hóa rất cao, đa phần nhà máy nằm ở vùng Nam Trung Bộ, do đó dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ. Cái này thì chắc sau này rút kinh nghiệm thôi.

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

EVN tổ chức họp với nhà đầu tư năng lượng tái tạo khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận

Hôm nay 3/7, EVN sẽ tổ chức cuộc họp với các Lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, đại diện Cục điện lực và Năng lượng tái tạo, Cục Điều tiết Điện lực, Chủ đầu tư các nhà máy điện mặt trời, nhà máy điện gió tại Bình Thuận và Ninh Thuận để xem xét tình hình đầu nối, khó khăn trong công tác vận hành và đặc biệt là khả năng giải phóng công suất cho các nhà máy điện mặt trời.

Mốc 1/7/2019 để đưa ra mức giá mới cho điện mặt trời đã được biết từ cách đây 2 năm, khi Quyết định 11/2017/QĐ-TTg được ban hành vào tháng 4/2017. Tại Quyết định này, mức giá 9,35 UScent/kWh được công bố sẽ áp dụng đến hết ngày 30/6/2019.

Được biết, Bộ Công thương đã vài lần đưa ra dự thảo giá điện mặt trời áp dụng từ ngày 1/7/2019 để các bên góp ý kiến, nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về Chính phủ, tương tự Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg trước đây.

Bên cạnh đó, để xây dựng chính sách giá cho điện mặt trời sau ngày 30/6/2019 và về lâu dài, Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Năng lượng tái tạo và Hiệu quả năng lượng” đã được thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển của Đức (GIZ) và Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương).

Ông Nguyễn Văn Thành, Phó cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cho hay, Cục đã đặt hàng tính toán và có tới 81 kịch bản liên quan đến giá cho điện mặt trời nhằm có một cách nhìn khách quan.

Từ các nghiên cứu với sự tư vấn của các chuyên gia quốc tế, Bộ Công thương đã đưa ra 4 vùng bức xạ với các mức giá tương ứng để phát triển tiềm năng điện mặt trời. Dẫu vậy, ngày 7/6/2019, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã yêu cầu Bộ Công thương nghiên cứu thêm phương án chia 2 vùng, thay vì 4 vùng. Theo phương án chia 2 vùng, 6 tỉnh gồm Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Phú Yên, Gia Lai, Khánh Hoà sẽ vào cùng 1 vùng và vùng 2 là tất cả các tỉnh còn lại.

Việc chia 2 vùng dù có ưu điểm là không có nhiều mức giá và không phải hỗ trợ cao hơn cho các vùng có tiềm năng bức xạ thấp, nhưng nhược điểm là không đủ khuyến khích các nhà đầu tư làm điện mặt trời ở miền Bắc và miền Trung, khó đạt được mục tiêu phát triển 20.000 MW điện mặt trời tới năm 2030 và càng khó khăn trong truyền tải do điện mặt trời tập trung lớn ở một vùng. Bởi vậy, phương án cuối cùng được Bộ Công thương trình lên Chính phủ vẫn là bảo lưu quan điểm chia thành 4 vùng.

Tuy nhiên, cũng có những ý kiến tán thành việc chia thành 2 vùng mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là một ví dụ.

“Ít hôm tới, Chính phủ sẽ có cuộc họp để kết luận về giá điện mặt trời áp dụng sau ngày 30/6/2019”, nguồn tin của Báo Đầu tư cho biết.

Việc chậm trễ có giá điện mặt trời mới đã khiến các nhà đầu tư vào năng lượng tái tạo tỏ ra hụt hẫng. Ông Nguyễn Bình, đến từ một quỹ chuyên về năng lượng tái tạo của Đức và Australia có văn phòng tại TP.HCM cho hay, nhiều quỹ đầu tư sốt ruột khi giá điện mặt trời mới chưa được ban hành.

“Nhiều quỹ đầu tư nước ngoài thấy không yên tâm trong việc đầu tư vào năng lượng mặt trời với thực tế hiện nay. Thậm chí, một số quỹ đến từ Đức và Thụy Sỹ đã rút lui. Nguyên nhân chủ yếu là họ lo lắng về sự bảo đảm trong hiệu quả đầu tư cũng như sự ổn định của chính sách”, ông Bình nói.

Ông Bình cho biết thêm, các quỹ đầu tư đã xác định giá theo 4 vùng, nhưng ngay cả vậy cũng không có gì đảm bảo là giá này sẽ được công nhận và kéo dài trong bao lâu. Nhiều quỹ cho biết, họ sẽ chờ luôn cả Quy hoạch Phát triển điện VIII, bởi lo lắng về việc thực hiện quy hoạch nếu không có văn bản hướng dẫn rõ ràng.

Giảm 65% công suất

Hiện đã có 81 dự án điện mặt trời với công suất thiết kế 4.464 MW hoàn tất các thí nghiệm kiểm định trước ngày 30/6/2019, điều kiện tiên quyết để được áp dụng giá điện 9,35 UScent/kWh trong thời gian 20 năm. Các dự án điện mặt trời đã đi vào hoạt động liên tiếp từ tháng 4/2019 trở lại đây đã giải quyết phần nào cho hoạt động cung cấp điện khi nắng nóng dâng cao trong tháng 6.

Ghi nhận của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) cho thấy, công suất phát điện của các nhà máy điện mặt trời cao nhất trong ngày thường rơi vào tầm 14g và đạt 3.200 MW. Tuy nhiên, đỉnh công suất này lại không trùng với cao điểm sáng, từ 9-11g hàng ngày và sau 18g là không thể đóng góp được gì.

Dẫu vậy, câu chuyện đang được các nhà đầu tư lo lắng là lưới truyền tải không theo kịp sự có mặt của các dự án điện mặt trời, khiến nhiều dự án điện được yêu cầu giảm công suất phát, có thể tới 65%.

Đáng nói là, do mối lợi 9,35 UScent/kWh trong 20 năm, nhiều chủ đầu tư mặt trời đã chấp nhận bổ sung điều khoản phụ về sa thải phụ tải khi quá tải lưới khi ký hợp đồng mua bán điện.

Việc triển khai làm lưới nhanh để giải tỏa công suất điện mặt trời cũng được cho là không dễ khi giá đền bù đất làm cột điện đang được đẩy lên rất cao. “Có chủ đất đòi giá mỗi m2 trụ điện là 50 triệu đồng và 70 m2 cho 2 cột trên đất của họ có giá khoảng 3,5 tỷ đồng, khiến chủ đầu tư đứng hình”, một người làm thực tế dự án điện mặt trời cho hay.

Đó là chưa kể, nếu các đường dây 100 kV này chưa có tên trong Quy hoạch Điện VII điều chỉnh hiện nay, thì việc xin bổ sung quy hoạch còn nhiều gian nan. Mặt khác, do các nhà máy điện mặt trời tập trung lớn tại Ninh Thuận, Bình Thuận là khu vực tiêu thụ điện thấp, cần phải truyền tải vào Nam hay ra Bắc, nên có thể phải cấp 220 kV hay 500 kV mới giải tỏa được trọn vẹn, do đó sẽ cần cả tiền và thời gian để triển khai.