Gia Lai : khuyến khích hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời áp mái

Nguồn năng lượng mặt trời được xem là vô tận và quý giá, nhất là trong tình trạng nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt. Nhận thức rõ điều đó, Công ty Điện lực Gia Lai (PC Gia Lai) đang nỗ lực giúp người dân trên địa bàn lắp đặt, sử dụng điện mặt trời (ĐMT) trên mái nhà để khai thác hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo này.

Theo số liệu bức xạ năng lượng mặt trời tại Việt Nam, tỉnh Gia Lai có số giờ nắng trung bình 1.900-2.200 giờ/năm, bức xạ tổng cộng 335-380 kcal/cm3 và số liệu bức xạ mặt trời trung bình ngày đưa vào tính toán 4,8-5,2 kWh/m2/ngày. Đây được xem là điều kiện lý tưởng để phát triển nguồn năng lượng tái tạo này, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho khách hàng và địa phương. Mặc khác, ĐMT trên mái nhà còn có những ưu việt như: Thân thiện với môi trường, thi công, lắp đặt dễ dàng, tận dụng mái nhà hoặc không gian của công trình để lắp đặt các tấm pin mặt trời. Ước tính, mỗi gia đình chỉ cần sử dụng diện tích 50m2 mái nhà là có thể lắp đặt được hệ thống pin sản sinh ra công suất gần 10kWp, đáp ứng đủ nhu cầu điện sử dụng trong gia đình. Đối với khách hàng đầu tư ĐMT trên mái nhà để kinh doanh thì được xem là một giải pháp đầu tư an toàn, hiệu quả.  

Anh Phan Quang Hoàng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Hoàng Quang (TP Pleiku), một trong những khách hàng tiên phong đầu tư ĐMT trên mái nhà để kinh doanh ở tỉnh Gia Lai chia sẻ: Bài toán lợi nhuận của ĐMT trên mái nhà rất đơn giản, với thiết bị, công nghệ hiện nay, chi phí lắp ĐMT trên mái nhà khoảng từ 20 đến 22 triệu đồng/1kWp; giá bán điện được ngành điện ưu tiên mua là 9,35 Cent/kWh. Như vậy, khách hàng chỉ mất khoảng 5 đến 6 năm là thu hồi lại toàn bộ vốn đầu tư, trong khi đó tuổi thọ của hệ thống này lên đến 25 năm. Ví dụ như hiện nay, tôi đang sử dụng hệ thống ĐMT trên mái nhà với công suất 120kWp, chi phí lắp đặt hơn 1,5 tỷ đồng, mỗi tháng thu về 30 triệu đồng từ tiền bán điện và chỉ hơn 5 năm, tôi sẽ thu hồi được toàn bộ số vốn bỏ ra.

Tương tự, anh Phan Bá Kiên, trú tại 527, Phạm Văn Đồng (TP Pleiku, tỉnh Gia Lai) lắp đặt hệ thống ĐMT trên mái nhà từ đầu năm 2019 với công suất 6 kWp, tổng chi phí 120 triệu đồng, mỗi tháng gia đình anh giảm được hơn 2 triệu đồng tiền điện. Anh Kiên cho biết: “Nó rất hiệu quả về kinh tế, đặc biệt đối với những gia đình, cơ sở sản xuất sử dụng điện nhiều vào ban ngày”.

Tìm hiểu thực tế chúng tôi được biết, từ đầu năm 2018, PC Gia Lai đã triển khai lắp đặt ĐMT trên mái nhà  toàn bộ nhà điều hành của công ty và 15 điện lực huyện với tổng công suất là 443,52kWp. Lượng điện này vừa đảm bảo một phần cho hoạt động của trung tâm điều hành của PC Gia Lai và các điện lực trực thuộc, vừa hòa vào điện lưới quốc gia, thu lợi nhuận cho đơn vị. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Gia Lai còn có 172 khách hàng đã lắp đặt, sử dụng ĐMT trên mái nhà với công suất 4498,99kWp và nhiều khách hàng đang triển khai lắp. Đặc biệt, có khách hàng lắp với công suất lên đến 999.90kWp.

Ông Lê Quang Trường, Phó giám đốc PC Gia Lai cho biết: Hiện nay, công ty đang tiếp tục phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp có kiến thức, hiểu biết cơ bản về ĐMT trên mái nhà. Cử cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm tư vấn, hỗ trợ hết mức cho khách hàng về công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng kỹ thuật của hệ thống ĐMT trên mái nhà trước khi đưa vào vận hành. Người dân có nhu cầu đầu tư ĐMT trên mái nhà sẽ được hướng dẫn cụ thể về thủ tục, thỏa thuận vị trí đấu nối công trình. Khi công trình hoàn thành, bảo đảm các điều kiện kỹ thuật theo thiết kế, sẽ được nghiệm thu, chủ đầu tư và ngành điện thực hiện ký hợp đồng mua bán điện, lắp đặt công tơ hai chiều để đo đếm sản lượng tiêu thụ, sản lượng phát lên lưới. Hằng tháng, ngành điện sẽ ghi nhận sản lượng điện giao nhận và trả tiền với sản lượng điện dư thừa cho khách hàng…

Gia Lai : Tuyên truyền và vận động người dân lắp điện mặt trời trên mái nhà

Trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt, nhu cầu sử dụng năng lượng điện của người dân tăng cao, mô hình điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà đang là giải pháp hữu hiệu để tiết kiệm chi phí cho người dân, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia.

Chú thích ảnh

Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, Gia Lai có số giờ nắng trung bình từ 1.900 – 2.200 giờ/năm, cá biệt có địa phương đạt gần 2.500 giờ/ năm với mức bức xạ nhiệt trên 5 kWh/m2, là điều kiện rất thuận lợi để khai thác nguồn tài nguyên vô tận này.

Ngoài những ưu điểm thân thiện với môi trường, không gây ra tiếng ồn, khâu thi công cũng rất thuận lợi, chỉ cần tận dụng không gian mái nhà là có thể lắp đặt được các tấm pin mặt trời. Ước tính, mỗi gia đình chỉ cần sử dụng diện tích 50m2 mái nhà là có thể lắp đặt được hệ thống pin sản sinh ra công suất gần 10 kWp, đáp ứng đủ nhu cầu điện sử dụng trong gia đình.  

Chú thích ảnh

Ông Lê Tuấn Thành ở tổ 5, phường Ia Kring, thành phố Pleiku cho hay: Những năm trước khi chưa lắp đặt hệ thống điện mặt trời, gia đình ông phải trả chi phí sử dụng điện trung bình từ 800 nghìn đên 1 triệu đồng/tháng. Sau khi lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, chi phí giảm chỉ còn chưa tới 100 nghìn đồng/tháng. 

Tùy nhu cầu sử dụng, các hộ dân có thể lựa chọn lắp đặt hệ thống điện mặt trời có công suất lớn hoặc nhỏ. Sau khi hoàn thành và đi vào vận hành, Điện lực Gia Lai sẽ lắp đặt miễn phí công tơ 2 chiều để hòa lưới điện quốc gia. Lúc này phụ tải điện gia đình sẽ được cấp bởi cả 2 nguồn điện song song và ưu tiên sử dụng điện mặt trời, chỉ khi điện mặt trời không sản sinh đủ lượng điện thì phụ tải mới nhận điện từ lưới điện. Ngược lại, khi nguồn năng lượng điện mặt trời thừa sẽ được phát lên lưới điện bán cho ngành điện với giá hơn 9 Cent/kWh (tương đương với 2.100 đồng/kWh). 

Chú thích ảnh

Chia sẻ về hiệu quả của điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà, anh Trần Bá Lượng ở thị xã Ayun Pa cho biết, gia đình tôi bắt đầu lắp đặt hệ thống điện mặt trời từ năm 2018 và tiếp tục nâng công suất vào đầu năm 2019 lên 20 kWp. Từ khi có hệ thống này, chi phí sử dụng điện của gia đình tôi không những giảm đáng kể, mà còn dư nguồn điện để bán cho Nhà nước mỗi tháng khoảng 5,5 triệu đồng. 

Theo ông Trần Đăng Tiến, Phó Giám đốc Điện lực thị xã Ayun Pa, hiện địa phương đã có 11 hộ dân lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời với công suất 200 kWp. Thống kê cho thấy, ngoài số tiền được giảm trừ trên hóa đơn thanh toán, các khách hàng còn bán điện ngược lại cho ngành điện trên 23.000 kWh. Dự kiến trong thời gian tới, sẽ có 16 hộ dân tiếp tục đăng ký lắp đặt với công suất 360 kWp. 

Tỉnh Gia Lai hiện đã có hơn 90 khách hàng sử dụng điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà với tổng công suất gần 2 MWp. Ngoài ra, ngành điện Gia Lai cũng đã hoàn thành lắp đặt hệ thống điện mặt trời cho tất các các văn phòng, công suất 800kWp để phục vụ hoạt động của đơn vị. Lượng điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà sản xuất ra đã phần nào tiết kiệm chi phí và hỗ trợ đắc lực trong những thời điểm cao điểm sử dụng điện.

Ông Lê Quang Trường, Phó Giám đốc Công ty điện lực Gia Lai cho biết: Thông qua trung tâm chăm sóc khách hàng, các hội nghị, mạng xã hội và trang web của đơn vị, điện lực Gia Lai đã đẩy mạnh tuyên truyền và khuyến khích người dân sử dụng năng lượng điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà để tiết kiệm chi phí và hỗ trợ đảm bảo an ninh năng lượng điện cho ngành điện.

Ngoài ra, để hỗ trợ cho khách hàng, Công ty điện lực Gia Lai tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc thỏa thuận đấu nối, ký hợp đồng mua bán điện, nghiệm thu, thí nghiệm và lắp công tơ miễn phí cho khách hàng. Với những chính sách cụ thể, hy vọng rằng điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà sẽ phát triển hiệu quả hơn trong thời gian đến.

Là địa phương có tiềm năng, lợi thế để khai thác năng lượng điện mặt trời, tỉnh Gia Lai đã đồng ý cho quy hoạch và khảo sát 17 dự án. Hiện đã có một dự án công suất 49 MW đi vào hoạt động, 2 dự án còn lại sẽ hoàn thành trong năm nay. Việc định hướng phát triển năng lượng tái tạo, bền vững, thân thiện với môi trường gắn với thế mạnh của địa phương là hướng đi phù hợp, tối ưu hiệu quả kinh tế cho người dân và xã hội./.

Thực trạng năng lượng tái tạo ở VN và kiến nghị giải pháp phát triển bền vững

Thực trạng sản xuất điện từ NLTT của Việt Nam

Điện gió: Các dự án điện gió không nối lưới đã xây dựng ở Việt Nam gồm các tuabin gió quy mô gia đình (150-200kW), chủ yếu lắp đặt ở các khu vực ngoài lưới (các đảo).

Hệ lai ghép tuabin gió – máy phát điện điêzen (30kW) đặt tại huyện Hải Hậu, Nam Định hiện không hoạt động được do độ cao lắp đặt thấp.

Hệ lai ghép tuabin gió – pin mặt trời (2kW) đặt tại huyện Đắc Hà, Kon Tum và Trạm điện gió đảo Bạch Long Vỹ (800kW), hoạt động từ năm 2004. Đây là tuabin gió lớn nhất ở thời điểm này, nhưng phải ngừng hoạt động sau 1 năm vận hành vì sự cố.

Dự án điện gió tại Đảo Phú Quý 3x2MW đã lập xong dự án đầu tư xây dựng công trình, dự kiến đưa vào vận hành vào năm 2012.

Hiện Việt Nam có 14 dự án điện gió nối lưới đang trong giai đoạn lập báo cáo đầu tư (892,5MW) và 7 dự án đang lập Dự án đầu tư xây dựng công trình (205MW).

Ngoài ra, còn có dự án điện gió tại Bạc Liêu đã khởi công (99MW) và dự án điện gió tại Gia Lai đã lập báo cáo đầu tư (40,5MW).

Như vậy, tổng công suất của 23 dự án điện gió này là 1.237MW. Việc triển khai dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư của 23 dự án này đều gặp khó khăn do chưa thoả thuận được giá bán điện.

Duy nhất Dự án Nhà máy phong điện 1 – Bình Thuận 20×1,5MW, chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN) bỏ qua rào cản về thoả thuận giá mua bán điện, trong phân kỳ đầu tư giai đoạn 1 đã hoàn thành xây lắp và đưa 5 tuabin gió (5×1,5=7,5MW) vào vận hành hoà điện, đấu nối, cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia từ 22/8/2009.

Đến nay đã xây dựng xong 15 tổ máy, tổ máy còn lại thuộc giai đoạn 2 đưa tổng công suất của nhà máy lên 30MW. Các tổ máy này đã vận hành an toàn vượt qua được thử thách của các mùa mưa bão đã qua.

Đây có thể coi là sự kiện thành công nhất trong lịch sử phát triển điện gió của Việt Nam.

Điện mặt trời: Năng lượng mặt trời dùng để sản xuất điện ở Việt Nam chủ yếu là nguồn điện pin mặt trời được áp dụng ở khu vực nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo.

Hiện các hệ thống pin mặt trời đã có mặt ở 38 tỉnh thành và một số bộ, ngành như: Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông Vận tải, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)… Các nguồn điện pin mặt trời này đều không nối lưới, trừ hệ thống pin mặt trời 150kW tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia là có nối lưới.

Tổng công suất đặt pin mặt trời của Việt Nam đến nay khoảng 1,4MW.

Năng lượng khí sinh học và sinh khối: Dạng năng lượng này tính đến thời điểm hiện nay chủ yếu là phát triển nhiên liệu sinh học từ mía, sắn, ngô, dầu cọ, cao lương, tảo, cây jatropha, thầu dầu, biomas, biodiesel.

Năm 2009 được coi là năm ra đời ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học tại Việt Nam, các nhà máy sản xuất ethanol tại Quảng Nam, Phú Thọ, Quảng Ngãi (Dung Quất), Bình Phước, Đồng Nai đã và sẽ lần lượt đưa vào vận hành.

Nhà máy đường Tây Ninh đã dùng bã mía làm nhiên liệu đốt lò nhà máy điện theo công nghệ đồng phát, nhiều dự án tương tự đang được triển khai ở miền Nam với nhiên liệu là trấu.

Địa nhiệt: Cách đây 16 năm, Công ty Ormat (Hoa Kỳ) đã đến Việt Nam nghiên cứu phát triển nhà máy điện địa nhiệt, nhưng không triển khai được, mà lý do chính là không thoả thuận được về giá bán điện.

Gần đây Công ty Xây lắp điện Khánh Hoà và Công ty LIOA có dự kiến đầu tư dự án điện địa nhiệt tại Tu Bông (Khánh Hoà), đã tổ chức đoàn đi khảo sát các nhà máy điện địa nhiệt tại Philippin. Cho đến nay chưa có thông tin đầy đủ và chính xác về tiến độ thực thi các dự án địa nhiệt tại Việt Nam.

Kiến nghị các giải pháp để phát triển NLTT bền vững

Một là, gấp rút xác định chính xác tiềm năng NLTT ở Việt Nam, trước mắt là năng lượng gió, mặt trời, từ đó vạch ra chiến lược và sách lược khai thác có hiệu quả hai dạng năng lượng này, kể cả nối lưới và không nối lưới, kịp thời tạo nguồn bổ sung điện năng cho giai đoạn đến 2020.

Về tiềm năng năng lượng gió: Cần triển khai công tác đo gió ở những vùng tiềm năng cao (tham khảo bản đồ NEDO). Công tác đo gió phải thực hiện ở độ cao 40m trở lên trên phạm vi rộng, có quan trắc một cách khoa học và đủ chu kỳ.

Để giảm thiểu chi phí đo gió mà vẫn đạt được độ chính xác cao, cần tổ chức tốt việc hợp tác quốc tế và hợp tác các chủ đầu tư dự án điện gió trong nước.

Chú ý là Truewind Solutions đã tiến hành lập Bản đồ gió Mesomap cho khu vực Đông Nam Á để WB sử dụng Hệ thống mô phỏng thí nghiệm Mesocale nhằm phác thảo toàn cảnh về năng lượng gió trên toàn lãnh thổ Việt Nam ở các độ cao 30m, 50m theo tốc độ gió trung bình hàng năm.

Tuy nhiên, đây chỉ là tài liệu nghiên cứu ở cấp vĩ mô và cho kết quả về khả năng khai thác gió ở những độ cao này tại một số địa phương của Việt Nam mà thôi. Cần tham khảo và tổng kết kết quả đo gió của Công ty Cổ phần NLTT Việt Nam (REVN) tại Bình Thuận và của Tổng Công ty Điện lực dầu khí Việt Nam (PV Power) tại Đảo Phú Quý (Bình Thuận), các nhà đầu tư này đặt các tuabin gió ở độ cao 85m.

Về tiềm năng năng lượng mặt trời: Với kết quả quan trắc của hơn 100 trạm, bố trí ở các tỉnh, thành trên toàn quốc theo dõi thu thập dự liệu về bức xạ mặt trời. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng năng lượng mặt trời phong phú, đặc biệt là ở miền Trung và miền Nam hầu như quanh năm có nắng. Cường độ bức xạ mặt trời trung bình ngày trong năm ở miền Trung và miền Nam đạt 5kWh/m2, dao động từ 4,0~5,9 kWh/m2. Ở Miền Bắc do hàng năm vào mùa đông xuân trời có nhiều mây, mưa phùn nên độ bức xạ mặt trời trung bình ngày trong năm là 4kWh/m2, khoảng dao động lớn hơn từ 2,4 ~ 5,5kWh/m2. Số giờ nắng trung bình năm tại Việt Nam khoảng 2000-5000h với tổng năng lượng bức xạ mặt trời trung bình 150kcal/cm2 , tiềm năng lý thuyết đánh giá đạt 43,9 tỷ TOE.

Từ các dữ liệu trên cho thấy, nguồn năng lượng mặt trời ở Việt Nam có độ ổn định tương đối cao, phân bổ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau, có thể khai thác đáp ứng một phần nhu cầu năng lượng điện tại chỗ cho miền núi, hải đảo, nông thôn, thành thị, cho hộ gia đình, sản xuất kể cả nối lưới điện quốc gia.

Hiện nay việc ứng dụng năng lượng mặt trời trên thế giới và Việt Nam còn khó khăn do giá thành thiết bị công nghệ điện mặt trời cao, song đây chính là nguồn năng lượng chiến lược, mang tính khả thi cao và thân thiện với môi trường.

Đặc biệt, hiện nhiều nước trên thế giới đã đạt được những thành quả rất đáng khích lệ về sử dụng dạng năng lượng này nên trong 10-20 năm tới sẽ là một trong những giải pháp nguồn cơ bản trong hệ thống năng lượng, góp phần tích cực vào việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Hai là: Rà soát lại, phổ biến rộng rãi, triển khai thực hiện tích cực và có hiệu quả “Chiến lược quy hoạch tổng thể các nguồn NLTT Việt Nam giai đoạn đến 2015 có xét triển vọng đến năm 2025” đã được Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) ra Quyết định phê duyệt.

Ba là: Xây dựng các chính sách hỗ trợ, đặc biệt ưu tiên đầu tư tài chính, công nghệ thiết bị, nội địa hóa, hợp tác quốc tế.

Đề nghị Chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế khuyến khích hỗ trợ phát triển NLTT với lộ trình thực hiện những nội dung của Nghị định, khẩn trương nhưng chắc chắn, xây dựng giá NLTT hợp lý tạo điều kiện thu hút đầu tư, tích cực chuẩn bị mọi công việc có liên quan để xây dựng Luật Năng lượng tái tạo trình Quốc hội thông qua.

Bốn là: Lập một tổ chức tập hợp mọi nguồn năng lực xã hội chuyên lo phát triển công nghệ NLTT để cung ứng cho mọi nhu cầu tăng trưởng năng lượng tại mọi địa điểm có suất năng lượng khá trong phạm vi toàn quốc.

Tổ chức ngay việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị sử dụng NLTT đặc biệt là Năng lượng gió và năng lượng mặt trời với mức nội địa hóa cao phù hợp với điều kiện cụ thể về chế độ gió, chế độ nắng của Việt Nam.

Năm là: Việc đào tạo nguồn nhân lực cho các chuyên ngành NLTT là vấn đề phải được quan tâm ngay từ bây giờ vì đã muộn.

Các bộ, ngành, tập đoàn, công ty đã có các dự án NLTT, đang triển khai cần đưa ra các kế hoạch và mục tiêu đào tạo cụ thể.

Cần tổ chức các đoàn đi tham quan học tập và khảo sát thực tế tại các cơ sở, công trường, cơ quan quản lý vận hành các dự án NLTT của các nước đã có kinh nghiệm về lĩnh vực này. Các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp có Chương trình đào tạo về ngành NLTT; muốn vậy, trước mắt cần mời những giảng viên có kinh nghiệm soạn thảo ra Bộ giáo trình có tiếp thu các thành tựu khoa học đã đạt được của quốc tế và hiểu hết được tình hình cụ thể của Việt Nam về NLTT.