Phương hướng phát triển điện mặt trời bền vững

Bên cạnh các chính sách thông thoáng, ưu đãi của Chính phủ cho phát triển năng lượng tái tạo nói chung và điện mặt trời (ĐMT) nói riêng, để ngành công nghiệp này phát triển, rất cần xây dựng tiêu chí cho ĐMT.

Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 (xét triển vọng đến năm 2030), đến năm 2020 tổng công suất nguồn điện quốc gia cần đạt 60.000 MW, tới năm 2025 là 96.000 MW và năm 2030 là 130.000 MW. Tuy nhiên, hiện nay tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống của nước ta mới đạt 45.000 MW.

Do đó, quy hoạch đã xác định việc ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng mặt trời, sẽ nâng công suất đặt từ 6-7 MW năm 2017 lên 850 MW vào năm 2020 và khoảng 12.000 MW vào năm 2030, tương đương với 1,6% và 3,3% tổng công suất của cả nguồn điện.

Như vậy, để tạo hành lang về pháp lý, kỹ thuật cho phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có ĐMT, rất cần xây dựng một tiêu chí, quy chuẩn cho ĐMT, từ đógiảm dần sự phụ thuộc vào các dạng năng lượng phát điện truyền thống, nhằm  bảo vệ môi trường, đa dạng hóa nguồn cung, góp phần vào sự phát triển bền vững.

Nhận diện khó khăn, vướng mắc

Việc phát triển nhanh các nguồn năng lượng tái tạo trong thời gian qua cũng đang đối mặt với một số bất cập và thách thức như chi phí đầu tư còn cao, số giờ vận hành nguồn điện còn thấp, cơ sở hạ tầng lưới diện một số khu vực nhiều tiềm năng về năng lượng tái tạo chưa sẵn sàng để giải phóng công suất, yêu cầu sử dụng đất lớn (nhất là đối với các dự án ĐMT), các khó khăn trong điều khiển, điều độ hệ thống điện khi tỉ trọng nguồn điện từ năng lượng tái tạo trong hệ thống tăng lên…

Trong đó, vấn đề đang làm nhiều nhà đầu tư và người dân quan tâm nhất là chi phí lắp đặt hệ thống ĐMT ban đầu khá cao. Đây có lẽ là khó khăn đầu tiên khi phát triển ĐMT tại Việt Nam.

Ví dụ, một hộ gia đình lắp đặt hệ thống Điện mặt trời áp mái diện tích 20 m2 sẽ cho công suất 3 kWp. Suất đầu tư cho 1 kWp xấp xỉ 20 triệu đồng. Trung bình lượng điện sản sinh được sử dụng tại chỗ 20%, số 80% còn lại được bán lại cho công ty điện lực thì thời gian thu hồi vốn khoảng 8 năm. Đối với đa số hộ gia đình thì chi phí 20 triệu đồng là số tiền khá lớn trong tổng nguồn chi tiêu của gia đình.

Bên cạnh đó, vấn đề bảo đảm vận hành an toàn và đạt được hiệu quả tốt với những hệ thống ĐMT có công suất lớn cũng đang là thách thức không nhỏ vì hệ thống ĐMT sản xuất nguồn điện lên xuống gần như là tức thời nên không bảo đảm sự ổn định như những hệ thống khác. Ngoài ra, lượng điện sản xuất được gần như phải tiêu thụ hoặc hòa lưới ngay lập tức vì hệ thống dự trữ ĐMT khá giới hạn mà chi phí đầu tư cho hệ thống này cũng tương đối cao. Do đó, khi không có ĐMT thì lưới điện phải ngay lập tức bù điện vào phần công suất thiết hụt ĐMT.

Thêm nữa là mức giá bán ĐMT khoảng  9,35 cent Mỹ/kWh trong thời gian 20 năm theo quy định của Chính phủ chỉ áp dụng cho các dự án nối lưới có hiệu suất của tế bào quang điện lớn hơn 16% hoặc module lớn hơn 15% (theo Quyết định 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ). Cùng với đó là sự ràng buộc về diện tích đất sử dụng của dự án ĐMT nối lưới có diện tích sử dụng đất lâu dài không quá 1,2 ha/MWp (Thông tư 16/2018/TT-BCT).

Như vậy, khó khăn, vướng mắc là ở chỗ những quy định này chưa có chủ thể giám sát. Diện tích đất tuy có thể dễ dàng giám sát khi doanh nghiệp được địa phương cấp quyền sử dụng đất với công suất lắp đặt thực tế của dự án, nhưng ai là đơn vị giám sát hay hậu kiểm cũng như đơn vị nào sẽ giám sát, kiểm hiệu suất của tế bào quang điện?

Xây dựng tiêu chí, quy chuẩn chung

Kinh nghiệm thực tế từ các nước châu Á và trong khu vực Đông Nam Á cho thấy, để thúc đẩy sự phát triển của ngành năng lượng sạch, trong đó có ĐMT, Nhà nước cần có chính sách khoa học cụ thể về phát triển năng lượng sạch, đồng thời phải có sự quyết liệt trong chỉ đạo thực hành các chính sách đó. Chính phủ tạo cơ chế công bằng và định hướng rõ ràng để các doanh nghiệp cùng tham gia phát triển ĐMT tại Việt Nam. Đây chính là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy ngành năng lượng sạch phát triển.

Như vậy, để phát triển ĐMT đi đúng hướng và bền vững, từ việc nhận diện và phân tích những khó khăn, vướng mắc nêu trên ngay từ bây giờ bắt đầu của quá trình phát triển, chúng ta cần xây dựng tiêu chí, quy chuẩn chung để tạo hành lang pháp lý thông thoáng nhưng chặt chẽ cho ĐMT phát triển.

Theo đó cần xây dựng tiêu chí ngành cho ĐMT như: Xây dựng cơ chế cụ thể cho các nhà đầu tư, ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật với thiết bị của ĐMT, ban hành các quy định để kiểm tra, giám sát chất lượng thiết bị, đề xuất thành lập đơn vị chức năng để xây dựng các tiêu chí kỹ thuật, có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực về ĐMT…

Về tài chính, Nhà nước có thể ban hành các văn bản khuyến khích các ngân hàng thiết kế gói vay liên quan đến ngành năng lượng mặt trời nói chung và ĐMT nói riêng, với các gói vay phù hợp từng đối tượng đầu tư…

Cần nhanh chóng hoàn thiện các quy trình, trình tự, thủ tục đấu nối và ký hợp đồng; tiếp nhận và giải quyết yêu cầu bán điện từ dự án ĐMT của chủ đầu tư; thanh toán tiền điện đối với dự án ĐMT; các hạng mục kiểm tra ban đầu khi đấu nối và trong quá trình vận hành dự án để tạo ra sự thông thoáng, thuận lợi cho các bên tham gia.

Để thúc đẩy phát triển ĐMT tại Việt Nam giai đoạn 2019-2025, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định 2023/QĐ-BCT ngày 5/7/2019 gồm 5 hợp phần là: Xây dựng và hoàn thiện chính sách, quy định hỗ trợ phát triển ĐMT theo hướng sẵn sàng chuyển đổi sang điều kiện thị trường; tiêu chuẩn, kiểm định và thử nghiệm; thúc đẩy các điều kiện thị trường và chương trình tài trợ thí điểm; chương trình Chứng chỉ ĐMTAM; xây dựng hệ thống thông tin quản lý và chiến lược truyền thông.

Đồng thời, Bộ Công Thương đã xây dựng, hoàn thiện chính sách về ĐMT; thực hiện các chương trình đào tạo và cấp chứng chỉ cho bên lắp đặt ĐMT; xây dựng bộ tiêu chí về tiêu chuẩn, kiểm định và thử nghiệm dành cho hệ thống ĐMT; triển khai các chương trình hỗ trợ tài chính và tổ chức hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về ĐMT.

Mới đây Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã đề nghị Chính phủ cho phép thực hiện đầu tư xã hội hóa một số công trình lưới điện truyền tải có chức năng thu gom công suất các dự án điện gió, ĐMT từ các chủ đầu tư những dự án này. Đối với các điểm nút truyền tải quan trọng, sau khi công trình đi vào vận hành, cho phép chủ đầu tư bàn giao lại cho ngành điện quản lý, vận hành.

Như vậy, việc xây dựng tiêu chí, quy chuẩn cho ĐMT sẽ tạo động lực quan trọng để ĐMT không chỉ phát triển mà còn phát triển bền vững, hỗ trợ vào nguồn năng lượng quốc gia phục vụ sự phát triển của nền kinh tế-xã hội.

Công suất điện mặt trời áp mái sẽ đặt 2.000 MW vào năm 2020

Trong bối cảnh các nguồn năng lượng truyền thống đang ngày càng cạn kiệt thì việc phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời áp mái, sẽ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN),tính đến hết tháng 6/2019, đã có 89 nhà máy điện gió và điện mặt trời hòa lưới với tổng công suất đặt 5.038 MW, chiếm 9,5% tổng công suất đặt của hệ thống điện quốc gia.

Dự kiến, đến ngày 31/12/2019, sẽ có thêm khoảng 1.000 MW các nguồn năng lượng tái tạo đấu nối vào hệ thống điện quốc gia góp phần giảm bớt những khó khăn về nguồn điện trong bối cảnh các nguồn năng lượng truyền thống đang ngày càng cạn kiệt.

EVN cho biết chỉ tính riêng điện mặt trời áp mái, trong 3 tháng trở lại đây đã có hơn 4.000 hộ gia đình lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái với tổng công suất đạt 200 MW. Với tốc độ phát triển như hiện nay, EVN dự kiến đến cuối năm 2019 sẽ có thêm 300 MW công suất điện mặt trời áp mái được lắp đặt.

Tại Diễn đàn năng lượng Việt Nam 2019 vừa mới được tổ chức, ông Võ Quang Lâm, Phó Tổng giám đốc EVN nhấn mạnh, phát triển điện mặt trời áp mái là giải pháp hữu hiệu để giảm được chi phía truyền tải, giảm áp lực về giá và tăng hiệu suất sử dụng.

Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng mức giá mua điện mặt trời áp mái là 9,35 cent/kWh. Bộ Công Thương đang đề xuất giữ nguyên mức giá điện mặt trời áp mái đến hết năm 2021 để khuyến khích phát triển nguồn năng lượng tái tạo này.

Cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, các giải pháp kỹ thuật cũng đang được gấp rút triển khai nhằm đấu nối và giải tỏa công suất của nguồn năng lượng này. EVN kỳ vọng đến hết năm 2020, công suất điện mặt trời áp mái sẽ đạt khoảng 2.000 MW.

Đánh giá của các chuyên gia trên lĩnh vực năng lượng tái tạo cho thấy, khu vực miền Trung và miền Nam có tiềm năng lớn về điện mặt trời áp mái với độ bức xạ đạt từ 4,2-4,8 kWh/m2/ngày. Điện mặt trời áp mái có tính chất phân tán, tiêu thụ tại chỗ, thời gian phát chủ yếu vào ban ngày, sẽ làm giảm áp lực về phụ tải lưới điện và giảm gánh nặng về đầu tư hệ thống.

Các chuyên gia lĩnh vực năng lượng tái tạo cũng đưa ra nhận định với cơ chế chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo và tiềm năng rất lớn thì mục tiêu đến cuối năm 2025 lắp đặt và đưa vào vận hành 100 nghìn hệ thống điện mặt trời áp mái có thể  thực hiện được.

Điện mặt trời giúp tiết kiệm 90% hóa đơn tiền điện?

 09:39 AM | CÔNG NGHỆ0

Nhu cầu sử dụng điện trong những ngày nắng nóng cùng việc giá điện tăng khiến hóa đơn tiền điện tăng đột biến. Mặc dù điện mặt trời được coi như giải pháp tiềm năng, nhưng trên thực tế, công nghệ này vẫn chưa lan tỏa tới đại đa số hộ gia đình Việt. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu về hệ thống ưu việt này.

Khí hậu phân hóa ảnh hưởng đến sản lượng điện mặt trời
Qua lời tư vấn của một số đơn vị cung cấp, hệ thống điện mặt trời hòa lưới công suất dưới 5 kWp (kilowatt-peak) đang nhận được rất nhiều sự quan tâm. Với giá trên dưới 20 triệu đồng/1 kWp, hệ 3 kWp hứa hẹn tiết kiệm cho gia đình mỗi tháng từ 400-500 kWh (tương đương 800.000 đồng – 1 triệu đồng), trong khi hệ 5 kWp có thể đạt sản lượng từ 600-750 kWh (tương đương 1,2 triệu đồng – 1,5 triệu đồng). Như vậy, hệ thống điện mặt trời sẽ bắt đầu sinh lời sau 5-7 năm.

Tuy nhiên, hiệu quả thực tiễn của hệ thống điện mặt trời phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: vị trí căn nhà, địa hình lắp đặt, vật cản và quan trọng nhất là điều kiện khí hậu. Khu vực dưới vĩ tuyến 17 (Nam Trung Bộ trở vào), bức xạ mặt trời không chỉ nhiều mà còn rất ổn định, chênh lệch 20% từ mùa Khô sang mùa Mưa. Số giờ nắng trung bình năm ở miền Nam khoảng 2000-2600 giờ/năm.

VùngGiờ nắng trong nămCường độ BXMT(kWh/m2/ngày)
Đông Bắc1600 – 17503,3 – 4,1
Tây Bắc1750 – 18004,1 – 4,9
Bắc Trung Bộ1700 – 20004,6 – 5,2
Tây Nguyên và Nam Trung Bộ2000 – 26004,9 – 5,7
Nam Bộ2200 – 25004,3 – 4,9
Trung bình cả nước1700 – 25004,6

Trong khi ở các tỉnh miền Bắc, số giờ nắng chỉ khoảng 1500-1700 giờ/năm. Ví dụ, sản lượng điện mặt trời các tháng trong năm tại Hà Nội không đồng đều do sự phân hóa rõ rệt giữa mùa Đông – Xuân và mùa Hè – Thu. Theo báo cáo của Sở Công thương Hà Nội, hệ thống điện mặt trời hoạt động lắp đặt tại miền Bắc sẽ có hiệu quả không cao như các tỉnh miền Nam, từ đó dẫn tới thời gian hoàn vốn sẽ lâu hơn, lên tới 7 năm.

Chúng tôi đã sử dụng phần mềm chuyên dụng PVGIS ước tính sản lượng điện của hệ 3 kWp tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Bạn có thể thấy điều kiện khí hậu sẽ ảnh hưởng thế nào tới hiệu quả của hệ thống điện mặt trời qua biểu đồ bên dưới.

Điện mặt trời tiết kiệm cho gia đình bạn bao nhiêu trên hóa đơn tiền điện? - Ảnh 2.

Với giàn pin nghiêng 12 độ và tổn thất hệ thống 15%, hiệu quả của hệ 3 kWp tại Hà Nội chỉ đạt khoảng 80% so với khi triển khai tại TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt có những tháng chưa đầy 60% công suất đỉnh (tương đương 400.000 đồng/tháng). Nếu giá bán điện mặt trời duy trì ở mức 2.314 đồng/kWh, các gia đình tại Hà Nội sẽ phải chờ gần 7 năm để hệ thống bắt đầu sinh lời, trong khi tại TP. Hồ Chí Minh là 5 năm. Đó là chưa kể trường hợp giàn pin có thể bị cây cối hay nhà cao tầng che lấp một vài giờ trong ngày.

Tuổi thọ của các tấm pin mặt trời có thể kéo dài tới 25 năm và được bảo hành tối đa 12 năm. Thời gian bảo hành bộ hòa lưới là 5 năm và khung giàn từ 1 đến 2 năm.

Nhà đầu tư thông minh

Tất nhiên, không ai có thể phủ nhận hoàn toàn lợi ích lâu dài mà nguồn năng lượng “sạch” này đem lại. Trao đổi với anh Quang Hiệp (TP. HCM), chúng tôi được biết hệ thống điện mặt trời 5 kWp đã giúp cắt giảm 90% trên hóa đơn tiền điện, đồng thời cho phép gia đình anh sử dụng điều hòa cũng như thiết bị gia dụng khác thoải mái hơn.

Sau 3 tháng lắp đặt và sử dụng hệ 3 kWp, bác Hương (Hà Nội) cũng bước đầu nhận thấy hiệu quả tích cực mà công nghệ này đem lại. “Buổi sáng hầu như gia đình tôi không dùng đến điện lưới”, bác Lợi cho biết. “Trung bình, sản lượng của hệ khoảng 10 kWh/ngày, nhưng như thế cũng là hiệu quả lắm rồi. Tôi đang tính lắp đặt tiếp cho gia đình con trai tôi”

Việt Nam là quốc gia gần đường xích đạo và có những vùng khô nắng nhiều như các tỉnh Nam Trung Bộ. Kể từ năm 2017, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy phát triển điện mặt trời để hạn chế bớt sự phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt. Rõ ràng, điện mặt trời đang góp phần đảm bảo cho nguồn an ninh năng lượng quốc gia, nhưng những gia đình đầu tư vào loại hình công nghệ này cần phải tìm hiểu kỹ về sản phẩm cũng như đơn vị lắp đặt, tránh gặp phải sản phẩm kém chất lượng.

Công tơ 2 chiều

Với hệ thống điện mặt trời hòa lưới, khi lượng điện sử dụng ít hơn công suất điện mặt trời thì cần công tơ 2 chiều chạy ngược để tính phần điện thừa bán lại cho Điện lực. Loại thiết bị này sẽ được thiết kế với 1 đồng hồ đo tổng điện năng sử dụng từ lưới và 1 đồng hồ đo lượng điện trả ngược ra lưới từ hệ thống điện mặt trời.

Trong khi tình trạng quá tải lưới điện truyền tải là mối lo của các nhà đầu tư điện mặt trời quy mô lớn, thì vấn đề của hộ gia đình là được lắp công tơ 2 chiều càng sớm càng tốt. Quá trình lắp đặt công tơ 2 chiều do đơn vị EVN phụ trách và miễn phí cho khách hàng. Hiện tại EVN đã có văn bản khuyến khích người dân lắp đặt Hệ thống điện mặt trời áp mái.

Kinh nghiệm phát triển điện mặt trời nhìn từ các nước trên thế giới

Có thể nói, phát triển điện mặt trời (ĐMT) nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung đang là một vấn đề rất “nóng” không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Chính vì vậy, để phát triển thì việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ các nước đã phát triển sẽ góp phần cho ĐMT tại Việt Nam đi đúng hướng.

Từ những nền kinh tế đã phát triển ĐMT như Trung Quốc, Nhật Bản, châu Âu

Trước tiên, phải nhìn vào kinh nghiệm phát triển năng lượng sạch của Trung Quốc, một nền kinh tế lớn đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) cho thấy, từ chỗ Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch như than, dầu mỏ, khí đốt…, đến nay, đã từng bước đa dạng hóa nguồn cung cấp điện năng thông qua việc phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Ngay từ năm 2006, Trung Quốc đã ban hành Luật Năng lượng tái tạo, đặt nền móng cho cuộc cách mạng phát triển năng lượng sạch. Kế hoạch 5 năm lần thứ XII (2011-2015) và lần thứ XIII (2016-2020) của Trung quốc đã chỉ ra phải ưu tiên phát triển năng lượng xanh và bảo vệ môi trường, bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải carbon và thay đổi cấu trúc thị trường than.

Cụ thể, Trung Quốc đã điều chỉnh giá điện từ nguồn tái tạo và hủy bỏ các kế hoạch triển khai các dự án nhà máy nhiệt điện chạy than; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư sản xuất nguồn năng lượng sạch tại nước này. Theo đó, năm 2015, điện gió đã cung cấp 33 GW cho Trung Quốc, gấp 3 lần công suất năng lượng sạch tại Pháp và dự kiến Trung Quốc tăng công suất điện gió lên 210 GW vào 2020, tương đương với tổng công suất điện gió của cả thế giới. 

Riêng với năng lượng ĐMT, cuối năm 2017, Trung Quốc cũng đạt công suất là 126 GW, tăng 67% so với năm 2016.

Tiếp đến, phải nói đến một cường quốc về khoa học-công nghệ phát triển là Nhật Bản cũng đã sớm nhận thức vai trò và tầm quan trọng của nguồn năng lượng sạch đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. 

Ngay từ năm 2008, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách hỗ trợ cho vay mua nhà sử dụng năng lượng tái tạo với thời gian trả nợ tối đa là 10 năm, trong đó, cho những gia đình cải tạo nhà, chuyển sang sử dụng năng lượng mặt trời được vay số tiền tối đa lên đến 5 triệu yen, tương đương gần 5.000 USD. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn mua điện sản xuất từ năng lượng mặt trời với giá cao hơn giá thị trường và giảm giá bán các tấm pin năng lượng mặt trời.

Để thúc đẩy ĐMT phát triển hơn nữa, tháng 8/2011, Nhật Bản đã ban hành Luật Trợ giá (FiT) mua năng lượng tái tạo, khuyến khích người dân tự sản xuất ĐMT tại nhà và từ đó xây dựng các trung tâm ĐMT lớn và tập trung. Luật FiT cho phép hỗ trợ giá điện sản xuất từ năng lượng mặt trời khi các doanh nghiệp tư nhân muốn đầu tư.

Cụ thể, Chính phủ mua điện sản xuất từ năng lượng mặt trời với giá cao hơn giá thị trường, khoảng 40 yen/kWp (0.50 USD/kWh) cho các dự án có công suất 10 kW trở lên. Đối với các dự án công suất <10 kW, giá mua là khoảng 42 yen/kWp (0.53 USD/kWh). Chỉ riêng năm 2016, Chính phủ Nhật Bản dành khoảng 2,3 nghìn tỉ yen (tương đương 20,5 tỉ USD) hỗ trợ việc mua lại ĐMT với giá cao.

Chính vì vậy, từ năm 2011 đến năm 2014, công suất lắp đặt ĐMT tại Nhật Bản tăng mạnh từ 5.000 MW lên 25.000 MW. Đến nay, đã có khoảng 2,4 triệu khách hàng (bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp…) lắp đặt ĐMT áp mái ở Nhật Bản. 

Đặc biệt, nhằm tạo động lực và gia tăng lợi ích cho người dân và doanh nghiệp khi đầu tư vào ĐMT, tháng 4/2017, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đã ban hành luật FiT mới (sửa đổi). Theo đó, giảm thuế từ 21 đến 30 yen/kWp điện tái tạo, tùy thuộc vào quy mô hệ thống. 

Tiếp đến, tháng 7/2018, Nhật Bản thông qua kế hoạch chiến lược phát triển năng lượng lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050. Theo đó, đã định hướng phát triển năng lượng dựa trên nguyên lí 3 E+S, (Safety – An toàn; Energy Sercurity – An ninh năng lượng; Enviroment – Môi trường và Economic Effeciency – Hiệu quả kinh tế).

Theo kế hoạch, Nhật Bản tiếp tục duy trì mục tiêu sử dụng đa dạng các nguồn năng lượng. Cụ thể, đến năm 2030, trong cơ cấu nguồn điện, năng lượng tái tạo chiếm từ 22-24%, nhiên liệu hóa thạch 56% và năng lượng hạt nhân từ 20-22%.

Tại Anh, một nước có nền kinh tế rất phát triển tại châu Âu, đã thực hiện cam kết ứng phó với biến đổi khí hậu được 20 năm đang là nước dẫn đầu trên thế giới về công suất điện gió ngoài khơi với 2 GW đã được lắp đặt trong năm 2018 và hướng tới mục tiêu 30 GW vào năm 2030. Hiện tại, điện gió hiện chiếm khoảng 10% năng lượng của nước Anh.

Nếu như năm 2012, nước Anh phải dựa vào nhiệt điện than là 40%, thì hiện nay, con số này là 6%. Tức là sau 7 năm, nước Anh đã giảm sự phục thuộc vào than cho sản xuất điện từ 40% xuống còn 6%. Ngoài ra, nước Anh còn là một quốc gia đứng đầu trên thế giới về cơ chế tài chính xanh.

…đến các nước trong khu vực ASEAN

Không chỉ ở các nền kinh tế lớn của thế giới mới nhận thức được vai trò của phát triển năng lượng xanh, sạch quyết định đến an ninh năng lượng toàn cầu mà tại khu vực ASEAN, phát triển hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo luôn là vấn đề cấp thiết của các quốc gia Đông – Nam Á, hướng tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng ASEAN xanh và sạch. Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế ASEAN thời gian qua, nhu cầu sử dụng năng lượng của các quốc gia trong khu vực ngày càng lớn.

Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), mức tiêu thụ năng lượng của ASEAN tăng 60% trong 15 năm qua. Bởi vậy, các quốc gia trong khu vực ASEAN cần nhanh chóng thúc đẩy sử dụng nguồn năng lượng sạch.

Nói đến phát triển năng lượng sạch trong khu vực ASEAN trước tiên phải nói đến Thái Lan, hiện nay đang là nước dẫn đầu ASEAN trong sử dụng ĐMT. Theo Cơ quan Năng lượng Tái tạo Quốc tế, Thái Lan xếp thứ 15 trong Tốp toàn cầu năm 2016, với công suất hơn 3.000 MW, cao hơn tất cả các nước ASEAN khác cộng lại. Dự kiến, công suất lắp đặt ĐMT tại đất Thái Lan đến năm 2036 là 6.000 MW.

Trong khối ASEAN, Thái Lan là nước đầu tiên áp dụng biểu giá FiT năm 2016 (feed-in-tariff – các mức giá áp dụng cho điện sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo để bán lên lưới hoặc sử dụng tại chỗ nhằm giảm tải cho lưới điện) cho năng lượng tái tạo; trong đó các dự án năng lượng mặt trời nhận được FiT cao nhất, với mức 23 cent/kWh cho 10 năm. Sau đó, chương trình này được thay thế bằng chương trình FiT 25 năm với giá 17 đến 20 cent/kWh tùy thuộc vào loại máy phát điện.

Để khuyến khích cho các dự án nhỏ, Thái Lan cũng đã đưa ra các mức hỗ trợ FiT cao nhất cho các nhà sản xuất nhỏ như các dự án quy mô nhỏ trên mái nhà. Cụ thể, Thái Lan đưa ra mức giá FiT ưu đãi 21 cent/kWh cho các dự án năng lượng mặt trời trên mái nhà, đồng thời khởi xướng chương trình “Mái nhà quang điện”. Đây chính là lý do khiến Thái Lan trở thành người dẫn đầu trong thị trường ĐMT ở Đông Nam Á.

Tiếp đến, Singapore, một quốc gia điển hình trong phát triển năng lượng sạch và là quốc gia được đánh giá là xanh, sạch nhất thế giới. Để có được kết quả như vậy, Singapore tích cực khuyến khích việc phát triển năng lượng sạch như ĐMT và điện gió.

Năm 2016, Singapore  đã công bố tài trợ hơn 700 triệu đô la Mỹ cho các hoạt động Nghiên cứu và Phát triển (R&D) ở khu vực công trong 5 năm nhằm tìm ra giải pháp cho phát triển bền vững đô thị. Hiện Singapore đang thử nghiệm xây dựng các nhà máy năng lượng mặt trời trong đô thị và các trạm ĐMT nổi trên các hồ chứa.

Đồng thời, để thúc đẩy các dự án ĐMT, Singapore cung cấp các mức thuế cạnh tranh và ưu tiên phát triển thị trường buôn bán điện cạnh tranh. Theo đó, tất cả người tiêu dùng, trong đó có các hộ gia đình sẽ có quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình.

Trong khi đó, Indonesia đầu năm 2017 đã thông qua luật về năng lượng tái tạo, trong đó thay đổi mức thuế suất đối với các dự án năng lượng tái tạo. Theo luật mới, mức hỗ trợ FiT sẽ dựa trên chi phí cung cấp điện trung bình của khu vực, nơi dự án điện năng lượng mới được xây dựng. Mức hỗ trợ theo chương trình mới là từ 6,5 đến 11,6 cent/kWh.

Luật mới của Indonesia cũng cho phép ĐMT cạnh tranh trực tiếp với các nhà máy nhiệt điện đốt than – hình thức sản xuất điện năng phổ biến ở Indonesia. Cơ chế thanh toán bù trừ (Metering Net) dành cho hộ gia đình, thương mại sử dụng năng lượng mặt trời trên mái nhà cũng được thông qua vào năm 2013, bắt buộc Tập đoàn Điện lực Quốc gia Indonesia phải trả khoản năng lượng dư thừa được sản xuất bởi năng lượng mặt trời vào tài khoản của khách hàng.

Tại Malaysia, chính sách về năng lượng mặt trời đã được quy định trong Đạo luật Năng lượng tái tạo năm 2011 và được sửa đổi năm 2014 nhằm phù hợp với sự thay đổi của thị trường cũng như việc giảm giá các tấm pin năng lượng. Ngoài ra, cơ chế thanh toán bù trừ (NEM) đã được đưa ra vào năm 2016 với mục tiêu đạt 500 MW ĐMT vào năm 2020 tại bán đảo Malaysia và Sabah. Theo đó, người tiêu dùng chỉ tốn 1m2 lắp đặt là có thể tạo ra điện năng cho gia đình và bán năng lượng dư thừa cho điện lưới quốc gia. Nhờ các chính sách hỗ trợ về giá, công suất lắp đặt pin mặt trời tại Malaysia cho đến nay đạt 338 MW. Quốc gia này đặt mục tiêu 1.356 MW vào năm 2020.

TS. Ngô Văn Tuấn

ĐH Ngân hàng TPHCM


Ninh Thuận : Doanh nghiệp “lách luật” làm điện mặt trời áp mái công suất lớn

Dự án đăng ký ban đầu chỉ có sản xuất nông nghiệp công nghệ cao nhưng Công ty cổ phần đầu tư – phát triển nông nghiệp công nghệ cao Ninh Thuận (Nitatech) tự ý làm luôn điện mặt trời.

Chiều 21-8, ông Dương Đình Sơn, phó phụ trách Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận, cho biết vừa quyết định xử phạt về hành vi lấn chiếm 0,75ha đất rừng đối với Công ty cổ phần đầu tư – phát triển nông nghiệp công nghệ cao Ninh Thuận (Nitatech) 22 triệu đồng.

Kèm phạt tiền còn có biện pháp buộc tháo gỡ hàng trụ điện, trồng lại cây lâm nghiệp, trả lại hiện trạng ban đầu.

Theo ghi nhận, Khu nông nghiệp công nghệ cao Nitatech (xã Phước Tiến, huyện Bác Ái) có 4 vị trí lắp đặt pin điện mặt trời (ĐMT) xen lẫn giữa đất rừng và đất sản xuất. Các dãy pin ĐMT được lắp đặt cao hơn mặt đất 2,5m.

Xin làm nông nghiệp, làm luôn điện mặt trời chui - Ảnh 1.

Theo ông Sơn, Nitatech được UBND tỉnh cấp phép đầu tư nông nghiệp công nghệ cao với tổng diện tích gần 60ha, trong đó có 17ha rừng giao cho Nitatech có trách nhiệm quản lý, bảo vệ. Đến nay, Nitatech đã trồng đan xen trong đất không có rừng cây bưởi da xanh, dưa.

Tuy nhiên, khi ngăn chặn Nitatech phá rừng, các ngành chức năng phát hiện Nitatech xây dựng nhà máy ĐMT công suất 4MW trong đất dự án với diện tích 4ha, mỗi hecta ĐMT có công suất 1MW.  Cả bốn vị trí ĐMT này đều đã nối lưới điện quốc gia trên trục quốc lộ 27B.

“Sau khi phát hiện dự án ĐMT sai, Sở Công thương tỉnh đã đến thực địa kiểm tra xem đây là ĐMT nối lưới hay ĐMT áp mái” – ông Sơn nói.

Xin làm nông nghiệp, làm luôn điện mặt trời chui - Ảnh 3.

Chiều 21-8, trả lời về việc này, ông Đạo Văn Rớt – phó giám đốc Sở Công thương tỉnh Ninh Thuận – cho biết sau khi các ngành chức năng phát hiện Nitatech xây dựng công trình ĐMT, Sở Công thương có phối hợp với Sở Kế hoạch – đầu tư, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên – môi trường, UBND huyện Bác Ái đến kiểm tra. 

Trình bày với đoàn kiểm tra, Nitatech cho biết đây là ĐMT áp mái được xây dựng trên đất, bên dưới kết hợp trồng nấm.

Tuy nhiên, ông Rớt cho biết khi đoàn kiểm tra hồ sơ đăng ký ban đầu của Nitatech chỉ có sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, không có kết hợp ĐMT. Như vậy là sai với mục đích dự án ban đầu được cấp phép.

Mặt khác, cũng theo ông Rớt, khi lắp đặt các tấm pin ĐMT trên diện tích 4ha và hiện đã nối lưới điện, Nitatech đã không làm hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất với Sở Tài nguyên – môi trường theo quy định. 

Còn theo Nitatech, đây là ĐMT áp mái thì càng sai, vì khi đầu tư ĐMT áp mái với công suất trên 1MW thì phải lập hồ sơ xin bổ sung quy hoạch ĐMT theo quy định, còn dưới 1MW thì không.

“Hiện Sở Công thương đang tổng hợp báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh” – ông Rớt cho biết.

Theo Báo Tuổi Trẻ – Tiêu đề được đặt lại theo chủ blog

Lãnh đạo EVN bảo lưu đề xuất giữ giá điện áp mái như cũ tới hết năm 2021

Phát biểu tại Diễn đàn năng lượng Việt Nam ngày 21/8, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Võ Quang Lâm cho biết trong 3 tháng vừa qua, điện mặt trời áp mái bùng nổ với tổng công suất lưới lên mức 200 MW. Bởi vướng về cơ chế tài chính, đến trước 25/6, cơ bản điện mặt trời áp mái không phát triển. Sau khi Bộ Công Thương bãi bỏ quy định bù trừ sản lượng, áp dụng cơ chế 2 chiều, nhà đầu tư có quyền điện từ lưới điện và bán lại toàn bộ lượng sản xuất được cho EVN, điện mặt trời áp mái tăng trưởng ngoạn mục.

Ông Lâm khẳng định ngành điện ủng hộ duy trì giá thu mua điện mặt trời áp mái ở mức 9,35 cent/kWh đến năm 2021 với kỳ vọng cơ chế này sẽ giúp “bùng nổ” điện mặt trời áp mái. Lãnh đạo EVN thông tin, trước 30/6, giá 9,35 cent/kWh được tính chung cho cả điện mặt trời áp mái và lắp đặt tại các trang trại, nhà máy. Bộ Công Thương đang trình Chính phủ để đưa ra mức giá cho điện mặt trời áp mái với dự kiến giữ mức như hiện tại đến hết năm 2021. 

EVN kỳ vọng công suất điện mặt trời áp mái trên cả nước sẽ đạt 500 MW đến hết 31/12 và đạt 2.000 MW đến hết 2021. Cơ cấu nguồn điện của Việt Nam hết năm 2018 là 49.000 MW, điện mặt trời áp mái chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong khi theo lãnh đạo EVN, Việt Nam còn nhiều tiềm năng trong lĩnh vực này. 

Ông Lâm dẫn ví dụ, Thái Lan chỉ cho phép 9 dự án điện mặt trời nổi với 2.700 MW, không cho đặt các trạm điện mặt trời trên mặt đất nhưng đặt mục tiêu đến 10.000 MW điện mặt trời áp mái. “Đây là một hướng Việt Nam có thể suy nghĩ trong thời gian tới”, lãnh đạo EVN nêu.

Theo ông Lâm, chi phí cho truyền tải, phân phối chiếm 30% trong cơ cấu giá thành điện. Vì vậy, điện mặt trời áp mái sản xuất và sử dụng tại chỗ sẽ giảm bớt được chi phí truyền tải, tăng hiệu suất sử dụng. Dẫn báo cáo của World Bank, ông chỉ ra tiềm năng lớn đối với các vùng tiêu thụ điện lớn: TP HCM ước tính có thể lắp đặt điện mặt trời áp mái với công suất khoảng 6.000 MW, ở Đà Nẵng là 1.000 MW.

Hiện nay, điện than vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam với 38%, thủy điện ở mức 34%, năm 2018. Khi đó, điện gió, điện mặt trời chiếm chưa tới 1% trong hệ thống điện quốc gia. Năm 2019 đánh dấu sự bùng nổ của điện gió, điện mặt trời. Tuy nhiên, đến hết tháng 6, công suất lắp đặt của cả 2 nguồn này là 4.542 MW, đạt 8,3% hệ thống điện toàn quốc. Điện mặt trời trang trại hiện đang gặp khó khi tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Tình trạng quá tải lưới điện diễn ra, nhiều dự án điện mặt trời phải cắt giảm công suất.

Quảng Trị : Điện mặt trời áp mái mang lại nhiều lợi ích

Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời, trong đó có điện mặt trời trên mái nhà (ĐMTMN). Tiếp đó, Bộ Công Thương đã khởi động Chương trình thúc đẩy phát triển ĐMTMN tại Việt Nam (giai đoạn 2019-2025) nhằm thúc đẩy sự phát triển ĐMTMN một cách bền vững.

Theo phân tích của các chuyên gia năng lượng, có rất nhiều lợi ích mà ĐMTMN đem lại cho nhà nước và người tiêu dùng điện. Đối với nhà nước là có thêm nguồn năng lượng sạch với sản lượng khá cao. Mặt khác nếu được khuyến khích phát triển ĐMTMN đồng nghĩa với việc giảm tối đa ngân sách đầu tư vào các công trình nguồn phát và lưới truyền tải điện.

Theo tính toán chỉ cần khoảng 2 triệu nóc nhà ở Việt Nam lắp đặt ĐMTMN với công suất 10 kW/1 mái nhà sẽ giảm tương ứng 16 triệu tấn than mỗi năm do bớt đi nguồn điện phải sản xuất từ năng lượng hóa thạch. Về phía người tiêu dùng, dù là đầu tư nhỏ theo quy mô hộ gia đình hay là tổ chức, doanh nghiệp đầu tư với quy mô lớn hơn cũng đều mang lại những lợi ích kép, đó là được sử dụng nguồn năng lượng sạch và có thêm nguồn thu từ bán điện.

Trưởng phòng Kinh doanh Công ty Điện lực Quảng Trị Nguyễn Minh Luận phân tích về những lợi ích thiết thực nếu lắp đặt ĐMTMN. Đối với các hộ gia đình đơn lẻ, phụ thuộc rất nhiều vào chính sách giá điện bậc thang mà hiện nay đang áp dụng với các hộ tiêu thụ. Khi mà hộ gia đình lắp đặt ĐMTMN thì sẽ giúp cắt bớt được phần đuôi (tức là những bậc thang cao, giá điện trung bình mà các hộ phải trả sẽ thấp hơn rất nhiều) và như vậy sẽ rất có lợi cho người tiêu dùng là hộ gia đình. Còn đối với các doanh nghiệp, cơ quan hiện nay chính sách giá điện đang áp dụng theo thời điểm sử dụng. Tức là nếu dùng nhiều vào giờ cao điểm thì giá điện phải trả cao hơn.

Trong khi ĐMTMN khả năng được huy động cao trùng với thời điểm doanh nghiệp phải huy động điện nhiều vào giờ cao điểm. Nếu chỉ tính vào khung giờ buổi sáng, thì lượng điện mặt trời áp mái có thể huy động được từ các nhà công cộng có thể đạt 25-30%, nếu tính thêm cả vào các giờ buổi trưa, cao điểm nắng thì lượng điện huy động có thể lên tới 60-65%. Như vậy sẽ giảm được lượng điện năng phải trả do giá cao đối với các doanh nghiệp, nhà công cộng. Nếu quy định về chênh lệch giá giữa giờ cao điểm và thấp điểm càng nhiều thì lợi ích đạt được càng lớn. Thêm nữa việc lắp đặt ĐMTMN khá dễ dàng do công nghệ phát triển. Vậy nhưng do công tác quảng bá chưa được chú trọng nên người dân thiếu thông tin, mặt khác chi phí đầu tư còn khá cao (khoảng trên dưới 20 triệu đồng cho 1kWp) là nguyên nhân chính khiến các hộ dân chưa quan tâm tới ĐMTMN.

Đối với địa bàn tỉnh Quảng Trị, sau hơn 1 năm triển khai chủ trương của ngành về việc khuyến khích người dân lắp đặt hệ thống ĐMTMN, đến nay toàn tỉnh đã có 46 hộ gia đình, cơ quan, doanh nghiệp tiến hành lắp đặt ĐMTMN với công suất 447 kWp, sản lượng điện phát ra chỉ trong tháng 7/2019 đạt 16.372 kWh. Với giá thành khoảng 20 triệu đồng/1kWp bình quân mỗi hộ gia đình phải mất 80 triệu đồng để lắp đặt 4 kWp quả là một khoản chi phí lớn nhưng hiệu quả mang lại khá bền vững. Theo thống kê của Công ty Điện lực Quảng Trị, như trường hợp của Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Trung (Vĩnh Linh) lắp đặt hệ thống ĐMTMN có công suất 30 kWp, trong tháng 7/2019 đã phát ra sản lượng điện là 2.517 kWh. Theo giá mua hiện tại đối với ĐMTMN là 2.034 đồng/1kWp, nên trong tháng 7/2019, trường đã bán cho ngành điện 5.371.278 đồng.

Rõ ràng đây là một khoản thu đáng kể để thu hồi nhanh nguồn vốn đầu tư ban đầu và sinh lãi. Trung tâm Mái ấm tình hồng thành phố Đông Hà là đơn vị được Công ty Điện lực Quảng Trị nhận đỡ đầu từ nhiều năm qua. Cuối năm 2018, từ nguồn knh phí của Tổng công ty Điện lực miền Trung đã hỗ trợ xây dựng hệ thống ĐMTMN có công suất 4,32 kWp, sản lượng điện bình quân 18 kWh/ngày; tổng trị giá của công trình là 120 triệu đồng. Giám đốc Trung tâm Mái ấm tình hồng Ngô Quang Mành cho biết, với việc tiếp nhận hệ thống ĐMTMN đảm bảo đủ nguồn điện phục vụ cho việc học tập và sinh hoạt của các cháu, mặt khác giúp cho Trung tâm giảm đáng kể tiền điện sinh hoạt hàng tháng.

Trước đây bình quân mỗi tháng Trung tâm phải trả gần 1,5 triệu tiền điện, sau khi đưa công trình ĐMTMN vào sử dụng hàng tháng Trung tâm Mái ấm tình hồng có thêm một khoản tiền từ việc bán điện cho ngành điện. Chỉ tính riêng trong tháng 7/2019, Trung tâm đã thu về hơn 500.000 đồng tiền điện, trong quý 1/2019 thu về gần 2 triệu đồng. Nhờ có hệ thống ĐMTMN đã giảm khoảng 50% chi phí tiền điện hàng tháng cho Trung tâm, giúp đơn vị tiết kiệm được một khoản kinh phí để bổ sung vào nguồn sinh hoạt phí cho các cháu. Nhưng điều quan trọng là từ khi đưa hệ thống ĐMTMN vào sử dụng, nguồn điện năng luôn ổn định và chưa có sự cố nào xảy ra. 

Tuy nhiên, không phải tất cả gia đình, doanh nghiệp lắp ĐMTMN đều thu được lợi ích như nhau. Để đảm bảo hiệu quả, thu được lợi ích các gia đình, doanh nghiệp cần xem xét, cân nhắc nhiều yếu tố như vị trí nhà, xưởng có bị che bóng bởi nhà bên cạnh, nhà cao tầng, bóng cây…Mái lắp đặt ở các vùng miền khác nhau đem lại hiệu quả kinh tế khác nhau; thiết kế hệ thống điện áp mái phải phù hợp và còn tùy thuộc vào chất lượng thiết bị, thiết kế, lắp đặt… Do đó, gia đình, doanh nghiệp cần cân nhắc, tính toán chi tiết để đem lại hiệu quả kinh tế phù hợp nhất.

Rõ ràng những hiệu ích thiết thực từ ĐMTMN đã được kiểm chứng từ thực tiễn đời sống. Nhưng làm thế nào để khai thác có hiệu quả nguồn năng lượng sạch này, làm thế nào để mọi người dân tích cực hưởng ứng chủ trương này cần phải có sự tham gia hỗ trợ từ phía ngân hàng trong việc huy động vốn lãi suất thấp để đầu tư ban đầu. Một giải pháp quan trọng để thúc đẩy ĐMTMN phát triển trong thời gian tới chính là phải coi trọng công tác truyền thông tới cộng đồng về khả năng đầu tư cũng như lợi ích đạt được từ ĐMTMN.